RISPERIDONE DẠNG TIÊM TÁC DỤNG KÉO DÀI KHÔNG LỢI ÍCH VÀ NHIỀU TÁC DỤNG PHỤ

716

Ngày 3 / 3 / 2011 – Theo một nghiên cứu mới trên tạp chí Y khoa New England, risperidone loại tiêm tác dụng kéo dài, một thuốc chống loạn thần thế hệ thứ hai đầu tiên được sử dụng tại Hoa Kỳ ở dạng này, không cho kết quả tốt hơn các thuốc chống loạn thần dạng uống trong điều trị tâm thần phân liệt (TTPL) không ổn định.

Trong một nghiên cứu ngẫu trên 300 bệnh nhân cựu chiến binh (Veterans Affairs Patients), các tác giả nhận thấy risperidone dạng tiêm không làm giảm một cách đáng kể tỉ lệ nhập viện hay cải thiện triệu chứng, chức năng xã hội, chất lượng cuộc sống so với những người được điều trị với thuốc chống loạn thần dạng uống “do bác sĩ chọn”. Nhóm điều trị với risperidone chích tác dụng kéo dài còn cho thấy nhiều tác dụng bất lợi hơn.

Các nhà nghiên cứu cho biết trị liệu này chưa được kiểm tra trước đây bằng nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên theo thời gian (long-term randomized trial) trong nhóm bệnh nhân riêng biệt này. Tác giả nghiên cứu, Gs Bs Robert Rosenheck, ĐHYK Yale ở New Haven, Connecticut cho biết “cũng như các nghiên cứu trước, nghiên cứu này không tìm thấy bất kỳ lợi ích nào, với chứng cứ hiện tại không cho thấy thuốc dạng này tốt hơn các thuốc dạng uống hiện hành.”

Ngoài ra, ông nhận thấy các bệnh nhân dùng thuốc tiêm tác dụng kéo dài có nhiều tác dụng có hại hơn. “Có thể những bệnh nhân dùng thuốc đường uống được điều chỉnh liều để tránh tác dụng phụ, nhưng khi dùng đường tiêm thì bắt đầu có tác dụng phụ do họ không thể giảm liều đã dùng. Trị liệu này cũng không giúp việc bệnh nhân sẽ duy trì thuốc trong thời gian lâu hơn. Tôi nghĩ đó là 2 phát hiện không mong muốn nhưng quan trọng liên quan đến thuốc dạng tiêm nói chung.”

Các phát hiện được tổng hợp

Theo các nhà nghiên cứu, thuốc chống loạn thần dạng tiêm tác dụng kéo dài được mong đợi nhiều sẽ cải thiện sự tuân thủ điều trị vốn rất kém ở bệnh nhân TTPL dùng thuốc uống. Các nghiên cứu đối chứng với giả dược trước đây cho rằng risperdone dạng này có hiệu quả, các kết quả từ nghiên cứu so sánh risperidone chích tác dụng kéo dài với các thuốc đường uống đã được tổng hợp. “Các nghiên cứu trước và sau cho thấy khả năng dung nạp chuyển từ đường uống sang risperidone tiêm tác dụng kéo dài, sẽ cải thiện triệu chứng và giảm nhập viện, nhưng những nghiên cứu này là trên các bệnh nhân lâm sàng ổn định và thiếu các nhóm đối chứng ngẫu nhiên.”

Để đánh giá hiệu quả của thuốc trên những bệnh nhân chưa ổn định, các nhà nghiên cứu khảo sát 369 bệnh nhân trên 18 tuổi mắc TTPL hoặc rối loạn phân liệt cảm xúc chưa ổn định. Tất cả bệnh nhân đang nằm viện (40%), đã từng nhập viện trong 2 năm trước (55%), hoặc có nguy cơ sắp nhập viện (5%).

Nhóm bệnh nhân này được chỉ định ngẫu nhiên 25-50 mg risperidone tiêm bắp tác dụng kéo dài mỗi 2 tuần trong tháng đầu tiên và mỗi tháng sau đó (n=187; 92% nam; 47% da trắng; tuổi trung bình 50,6), hoặc được tiếp tục điều trị liên tục với thuốc chống loạn thần đang dùng (nhóm chứng; n=182; 90,7% nam; 43% da trắng; tuổi trung bình 51,3). Tất cả bệnh nhân được đánh giá lại mỗi 3 tháng bằng phỏng vấn qua truyền hình không biết trước và theo dõi tiếp thêm 2 năm.

Kết quả của nghiên cứu là việc nhập viện vào bệnh viện tâm thần cựu chiến binh hoặc bệnh viện tâm thần không thuộc cựu chiến binh.

Các kết quả khác gồm các triệu chứng của TTPL được lượng giá bằng thang PANSS (Positive and Negative Syndrome Scale), chức năng tổng quát bằng thang PSP (Personal and Social Performance scale), chất lượng cuộc sống, và tác dụng bất lợi liên quan đến điều trị.
Sự tuân thủ điều trị sau phân nhóm ngẫu nhiên cũng được theo dõi. Tổng số 64% bệnh nhân có vấn đề về việc tuân thủ điều trị được báo cáo tại thời điểm ban đầu.

Thông tin tác dụng phụ bất lợi

Các kết quả cho thấy tỉ suất nhập viện thấp hơn, mặc dù không có ý nghĩa thống kê, đối với bệnh nhân sử dụng risperidone (39% sau 10,8 tháng) so với nhóm được điều trị với thuốc chống loạn thần uống (45% sau 11,3 tháng; tỉ suất nguy cơ 0,87; khoảng tin cậy 95% 0,63 – 1,20).
Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm trong điểm trung bình PANSS ( 74,10 so với 74,69, risperidone và nhóm chứng, theo thứ tự), điểm trung bình thang chất lượng cuộc sống Heinrichs-Carpenter (2,78 so với 2,86) thang Qualitive of Well-Being (0,67 vs 0,66), và thang PSP( 53.64 vs 53,83).

Cũng không thấy có sự vượt trội đáng kể về tuân thủ điều trị ở bệnh nhân dùng risperidone kéo dài (P=0,19). Số bệnh nhân dùng risperidone tiêm được ghi nhận có nhiều rối loạn tổng quát như đau hoặc căng cứng do tiêm (P=0,04), nhức đầu và các triệu chứng ngoại tháp so với nhóm chứng (P<0,01).

Ngoài ra, 12% bn điều trị với thuốc chống loạn thần đường uống chuyển sang sử dụng risperidone tiêm sau phân loại ngẫu nhiên khoảng 153 ± 203 ngày.

Giới hạn của nghiên cứu gồm liều risperidone có thể không đủ ở một số bệnh nhân, các quyết định liên quan đến nhập viện được biết trước, mẫu nghiên cứu lớn tuổi, đa số là nam cựu chiến binh do đó “kết quả có thể không đại diện cho quần thể dân số khác”

Chọn lựa điều trị quan trọng

Bs  John M.Kane, Trưởng khoa tâm thần BV Zucker Hillside tại Glen Oaks, New Yorks, Gs ĐH Y Albert Einstein, New York trả lời Medscape Medical News nhận xét: “Tôi nghĩ đây là nghiên cứu trọng, một thiết kế tốt với mẫu lớn”

Tuy nhiên, Bs Kane, không thực hiện nghiên cứu này, nói đến “một số thử thách” về mặt khả thi chung: “Khoảng 37% người tham gia có các vấn đề về lạm dụng rượu và chất, có tỉ lệ bỏ nghiên cứu cao 40% vào năm 1, và các bệnh nhân được cho dùng risperidone tiêm có thể không đủ liều điều trị vì họ chỉ nhận được trung bình 1,5 mũi tiêm mỗi tháng trong khi dự tính là 2 mũi mỗi tháng.”

“Đó là một số cảnh báo, nhưng dĩ nhiên đây là dân số thực tế và kết quả vẫn quan trọng.” Ông cho biết những nghiên cứu khác nhận thấy những bệnh nhân TTPL ổn định điều trị với thuốc tiêm tác dụng kéo dài có thể có lợi hơn thuốc uống trong việc ngừa tái phát nhưng không ngừa việc nhập viện, mà được tập trung khảo sát trong nghiên cứu của tiến sĩ Rosenheck.

Ông cũng chỉ ra “tỉ suất cao việc nhập viện trong cả hai nhóm là đáng báo động” có thể do những bệnh nhân riêng biệt của nghiên cứu đang trong nguy cơ tái phát do nhiều nguyên nhân ngoài việc không tuân thủ điều trị, ví dụ như lạm dụng chất.  “Do đó thuốc tác dụng kéo dài có thể không được mong đợi là sẽ có lợi ích. Rõ ràng, các bác sĩ  lâm sàng nên cân nhắc nhiều vấn đề khi điều trị bệnh nhân, và tôi nghĩ nghiên cứu này gợi ý cần phải khảo sát nhiều yếu tố khác nhau trên bệnh nhân”.

Ts Kane cho biết ông “không thấy” loại thuốc tiêm nào có khác biệt về mặt lợi ích so với loại khác, mặc dù có nhiều khác biệt về tác dụng phụ. “Tôi không thấy một loại thuốc tiêm tác dụng kéo dài nào có hiệu quả nhiều hơn loại khác. Theo tôi, risperidone trong nghiên cứu này như một ví dụ một chiến lược cố gắng chống lại sự không tuân thủ”.

“Tôi nghĩ thuốc tiêm là một chọn lựa quan trọng cho các bệnh nhân, và tại cùng thời điểm này các nghiên cứu chưa cho thấy sự nhất quán về các thuận lợi. Thách thức cho bác sĩ lâm sàng là phát hiện các nhóm bệnh nhân mà có lợi ích từ phương pháp điều trị này”.

Lược dịch: Nguyễn Thế Hùng.

Theo Deborah Brauser. No Benefit, More Side Effects With Injectable Risperidone. Medscape Medical News > Psychiatry