MỐI QUAN HỆ GIỮA TRẦM CẢM VÀ ĐỘNG KINH

32

MỐI QUAN HỆ GIỮA TRẦM CẢM VÀ ĐỘNG KINH

Nguồn tham khảo: Kanner AM, Ribot R, Mula M. “Mood Disorders in Adults with Epilepsy,” trong Epilepsy: A Comprehensive Textbook (3rd ed., 2023)

BSCKII. Nguyễn Hữu Thăng

Nguyễn Thị Hồng Nhung

Nguyễn Quang Đức

 

TỔNG QUAN

Trước đây, trầm cảm thường được xem là hậu quả của bệnh động kinh thông qua nhiều cơ chế trung gian như sự căng thẳng xã hội, bệnh nhân phải sống chung với bệnh động kinh, sự thay đổi bệnh lý trong não, hoặc tác dụng của các biện pháp điều trị như dùng thuốc chống động kinh hay phẫu thuật. Tuy nhiên, các nghiên cứu theo chiều dọc kéo dài trong hai thập kỷ gần đây đã khiến cho nhận định này thay đổi. Có thể nào giữa trầm cảm và bệnh động kinh là mối quan hệ hai chiều?

MỐI QUAN HỆ HAI CHIỀU GIỮA TRẦM CẢM VÀ ĐỘNG KINH

Trong một nghiên cứu đoàn hệ theo chiều dọc sử dụng Cơ sở dữ liệu Nghiên cứu Thực hành Đa khoa của Vương quốc Anh, ở những người sau đó được chẩn đoán động kinh, tỷ lệ mắc mới trầm cảm cao gấp 2-3 lần trong vòng 3 năm trước và 3 năm sau khi khởi phát cơn động kinh và tỷ lệ có ý nghĩ và hành vi tự sát cao gấp 4 lần so với nhóm đối chứng không mắc động kinh. Ở chiều ngược lại, một số nghiên cứu dựa trên dân số gần đây hơn cho thấy trầm cảm làm tăng 2,5 lần nguy cơ phát triển bệnh động kinh.

Không chỉ đơn thuần làm tăng nguy cơ phát triển động kinh, một số nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân có tiền sử mắc rối loạn trầm cảm trước khi khởi phát bệnh động kinh có nguy cơ mắc động kinh kháng trị cao gấp đôi; và những bệnh nhân được điều trị phối hợp thuốc chống trầm cảm và liệu pháp tâm lý cho rối loạn trầm cảm trước khi được chẩn đoán mắc động kinh cũng ít có khả năng đạt được trạng thái không còn cơn co giật hơn. Trong một nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm Động kinh Rush ở Chicago trên 100 bệnh nhân mắc bệnh động kinh kháng trị, điều ngược lại cũng được ghi nhận: trong giai đoạn giữa các cơn và sau cơn co giật, các bệnh nhân có tiền sử trầm cảm giữa các cơn thường xuất hiện các triệu chứng tăng nặng, bao gồm cảm giác tuyệt vọng, ý nghĩ tự sát, sự tự hạ thấp bản thân và cảm giác tội lỗi.

Với các dữ liệu từ nhiều nghiên cứu, các chuyên gia đã đưa ra kết luận rằng mối quan hệ giữa trầm cảm và động kinh là mối quan hệ hai chiều. Sự xuất hiện của rối loạn này không chỉ làm tăng nguy cơ hình thành rối loạn còn lại mà còn làm tăng nặng các triệu chứng sẵn có trên bệnh nhân.

CƠ CHẾ BỆNH SINH CHUNG CỦA TRẦM CẢM VÀ ĐỘNG KINH

Như đã trình bày ở trên, mối quan hệ giữa trầm cảm và động kinh mang tính hai chiều. Tuy nhiên, dữ liệu từ các nghiên cứu không chỉ ra mối quan hệ nhân quả giữa chúng, mà thay vào đó gợi ý sự tồn tại của các cơ chế sinh học thần kinh chung cùng tác động ở cả trầm cảm và bệnh động kinh, bao gồm các cơ chế: rối loạn các chất dẫn truyền thần kinh trong hệ thần kinh trung ương, sự tăng hoạt động của trục hạ đồi – tuyến yên – tuyến thượng thận, những bất thường về cấu trúc và chức năng trong não, và phản ứng viêm thần kinh.

  1. Sự rối loạn của các chất dẫn truyền thần kinh

Các chất dẫn truyền thần kinh tham gia vào việc điều hòa khí sắc cũng như kiểm soát tính kích thích điện trong não. Trong số đó, serotonin, norepinephrine, glutamate, GABA và dopamine đã có những nghiên cứu chứng minh là có ảnh hưởng đến cả hai quá trình trên.

Trong các nghiên cứu trên mô hình động vật và trên người, các chuyên gia đã chứng minh được sự suy giảm serotonin (5-HT) và norepinephrine (NE) không chỉ ảnh hưởng đến trầm cảm mà còn làm tăng độ nhạy, tần suất và độ nặng của các cơn co giật. Không chỉ vậy, người ta còn ghi nhận các thuốc chống trầm cảm làm tăng 5-HT/NE như SSRI và MAOI có đặc tính chống co giật và ngược lại, các thuốc can thiệp vào quá trình giải phóng hoặc tổng hợp 5-HT/NE làm trầm trọng thêm cơn co giật.

Glutamate là một chất dẫn truyền thần kinh mang tính kích thích, và sự gia tăng glutamate đã được chứng minh là đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành bệnh động kinh. Sự điều hòa chất này là một cơ chế hoạt động của một số thuốc động kinh. Một số dữ liệu cho thấy tác dụng chống trầm cảm của các chất đối kháng NMDA như felbamate hay topiramate ở các mô hình động vật và ở người mắc rối loạn trầm cảm kháng trị.

Ngược lại với glutamate, GABA đóng vai trò ức chế thần kinh. Như đã biết, sự sụt giảm GABA cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành bệnh động kinh. Bên cạnh đó, GABA còn có vai trò điều hoà khí sắc. Một số nghiên cứu cho thấy nồng độ GABA thấp trong dịch não tủy, huyết tương và vỏ não ở những người bị trầm cảm.

Sự suy giảm của dopamine ảnh hưởng đến cơ chế thưởng phạt gây ra triệu chứng cốt lõi của trầm cảm: mất thỏa mãn và hứng thú. Thông qua các nghiên cứu sử dụng các kỹ thuật chụp cắt lớp phát positron (PET) và chụp cắt lớp vi tính phát xạ đơn photon (SPECT), hoạt động bất thường của dopamine trong não bệnh nhân động kinh kháng trị cũng được ghi nhận.

  1. Sự tăng hoạt động của trục hạ đồi – tuyến yên – tuyến thượng thận

Sự tăng hoạt của trục hạ đồi – tuyến yên – tuyến thượng thận được coi là chỉ dấu sinh học đầu tiên của trầm cảm, xuất hiện ở hơn 50% bệnh nhân trầm cảm. Sự tăng hoạt này làm cho nồng độ cortisol trong máu tăng cao kéo dài. Đáng chú ý, nồng độ cortisol cao cũng được ghi nhận là có tác dụng thúc đẩy quá trình gây mẫn cảm hạch hạnh nhân trong một số mô hình thực nghiệm về động kinh. Không chỉ thế, nồng độ cortisol cao còn gây ảnh hưởng đến các hoạt động chất dẫn truyền thần kinh serotonin, glutamate và GABA. Ngoài ra, các bất thường về cấu trúc thần kinh tại vùng thùy thái dương, thùy trán, cũng như các cấu trúc dưới vỏ cũng có mối liên hệ với nồng độ cortisol cao trong huyết thanh.

  1. Những bất thường về cấu trúc và chức năng trong não

Sự biến đổi của cấu trúc não đã được biết đến trong các nghiên cứu hình ảnh học chức năng trên bệnh nhân trầm cảm và bệnh nhân động kinh. Trên những bệnh nhân mắc trầm cảm chủ yếu, hoạt động bất thường của dopamine đã được ghi nhận tại vùng bụng-bên của vỏ não trước trán và vỏ não ổ mắt-trán, cũng như tại nhân đuôi và nhân bèo. Tương tự, hoạt động bất thường của dopamine trên bệnh nhân mắc bệnh động kinh kháng trị được ghi nhận tại vùng chất đen. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu hình ảnh học chức năng do Salgado cùng các cộng sự đã cho thấy tác động cộng hưởng của trầm cảm và động kinh trên những bệnh nhân mắc chứng động kinh thùy thái dương kèm trầm cảm: các khu vực thùy thái dương và thùy trán ở cả hai bên bán cầu não, cũng như vùng đồi thị bên trái bị giảm thể tích chất xám nhiều hơn so với nhóm chứng không có trầm cảm đi kèm.

  1. Phản ứng viêm thần kinh

Các cơ chế viêm thần kinh là yếu tố bệnh sinh phổ biến trong cả các rối loạn trầm cảm nguyên phát và bệnh động kinh. Sự bài tiết các cytokine tiền viêm (như IL-1β, IL-2, IL-6, interferon-γ và yếu tố hoại tử khối u-α (TNF-α)) gia tăng ở bệnh nhân trầm cảm. Tương tự, IL-1β, IL-6, IL-10, yếu tố hoại tử khối u, yếu tố tăng trưởng chuyển dạng-β (TGF-β) gia tăng ở bệnh nhân động kinh.

KẾT LUẬN

Như vậy, có thể kết luận mối quan hệ giữa trầm cảm và động kinh là mối quan hệ hai chiều, nhưng không có quan hệ nhân quả mà gây ra do các cơ chế bệnh sinh chung. Việc thấu hiểu các cơ chế bệnh sinh chung này là cơ sở quan trọng để các bác sĩ lâm sàng chủ động tầm soát trầm cảm ngay từ giai đoạn đánh giá ban đầu bệnh động kinh. Từ đó, giúp thiết lập quy trình chẩn đoán và đưa ra các phương án điều trị toàn diện, hướng tới mục tiêu vừa kiểm soát cơn co giật, vừa cải thiện khí sắc và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Tài liệu tham khảo

  1. Kanner, A. M., Ribot, R., & Mula, M. (2023). Mood disorders in adults with epilepsy. In J. Engel Jr. & S. L. Moshé (Eds.), Epilepsy: A comprehensive textbook (3rd ed., Vols. 1–3, pp. 2529–2541). Wolters Kluwer.
Chia sẻ