KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG MẤT NGỦ TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

2571
  1. ĐẶT VẤN ĐỀ
    Mất ngủ là một triệu chứng không đặc hiệu trong chẩn đoán các bệnh lý tâm thần nhưng nó có giá trị trong việc theo dõi và đánh giá trong việc điều trị – quản lý các bệnh nhân, nó là một phần quan trọng trong quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân, tạo được sự tin tưởng ở điều trị nơi bệnh nhân. Trong tâm thần học cộng đồng mất ngủ là một dấu hiệu quan trọng để tiếp cận cộng đồng, một ”cánh cửa” để định hướng và góp phần phát hiện sớm các khó khăn về tâm lý – tâm thần và thúc đẩy bệnh nhân đến tư vấn ở mạng lưới sức khỏe tâm thần.Trong hình tượng sức khỏe nơi dân chúng việc ngủ đầy đủ là một trong các biểu hiện cho tình trạng thoải mái về sức khỏe và chất lượng cuộc sống, thậm chí ở một số bộ phận dân chúng mất ngủ được coi như ”căn nguyên” gây ra một số bệnh tâm thần và quan niệm các thuốc hướng tâm thần là ”thuốc ngủ” gây khó khăn trong quản lý lâu dài các bệnh nhân tâm thần.

Việc nhìn nhận tình trạng mất ngủ như một dấu hiệu chỉ điểm tốt cho các rối loạn tâm lý – tâm thần nhằm tạo cơ sở thuận lợi để tiến hành các can thiệp kịp thời trên tình trạng sức khỏe bệnh nhân trong khi chờ đợi các thay đổi về quan niệm bệnh tâm thần trong dân số chung dưới tác động của giáo dục – tuyên truyền  của ngành y tế.

II. TỔNG QUAN Y VĂN
Từ 1979”Hội nghị Đồng thuận (Conférence de Concensus) về các rối loạn giấc ngủ”do Viện Sức Khỏe Quốc Gia Hoa Kỳ chủ trì đã thống nhất chia mất ngủ làm 3 nhóm chính:

•    Mất ngủ thoáng qua     : vài ngày.
•    Mất ngủ ngắn hạn     : 1-3 tuần.
•    Mất ngủ kéo dài        : trên 3 tuần.

Mất ngủ thoáng qua và ngắn hạn
Thật ra thì cho đến nay vẫn chưa có một cuộc điều tra cơ bản nghiên cứu chuyên biệt các rối loạn giấc ngủ thoáng qua và ngắn hạn, các dữ liệu chủ yếu dựa trên các khảo sát tổng quát với các đối tượng có than phiền mất ngủ. Thí dụ như vào 1975 Karacan, Thornby và Williams nghiên cứu trên 2347 cư dân nội thị của Houston (Hoa Kỳ) thấy rằng có 25,4% than phiền vì thỉnh thoảng bị rối loạn giấc ngủ và 6% thường xuyên.Một nghiên cứu sâu rộng hơn trên mẫu đại diện cho dân số Hoa Kỳ trong độ tuổi 18-79 của Méllinger, Balter, Uhlenhuthn vào 1985 cho thấy có 35% thỉnh thoảng bị  mất ngủ trong vòng 1 năm nay và 17% nói rằng tình trạng mất ngủ của họ là nghiêm trọng.Một nghiên cứu đoàn hệ của Angst, Vollrath, Koch và Dobbler – Mikola (Thụy Sĩ) được công bố vào năm 1989 với 591 người được theo dõi từ lúc 20 – 21 tuổi đến năm 27 – 28 tuổi tại tổng Zurich (Thụy Sĩ) với 3 nhóm mất ngủ: mất ngủ kéo dài trên 2 tuần, mất ngủ ngắn dưới 2 tuần và mất ngủ ngắn dưới 2 tuần nhưng tái phát hàng tháng. Qua theo dõi ta thấy nhóm mất ngủ kéo dài có khuynh hướng gia tăng nhẹ theo tuổi, thí dụ như ở độ tuổi 21 có 8% nam và 12% nữ thì lên 28 tuổi là 10% nam và 16% nữ. Nhóm mất ngủ ngắn thì hằng định với 17% nam, 20% nữ ở 21 tuổi và 18% nam, 19% nữ ở 28 tuổi. Nhóm mất ngủ ngắn tái phát thì giảm nhẹ với 22% nam và 19% nữ ở 21 tuổi và 17%  nam 13% nữ ở 28. Điều đặc biệt trong nghiên cứu là các đối tượng dù mất ngủ ngắn luôn có chỉ số lo âu, trầm cảm, ám ảnh cưỡng chế, tâm thể cao hơn nhóm chứng, và nhóm mất ngủ ngắn tái phát và nhóm kéo dài còn có chỉ số cao hơn nhóm đầu, đặc biệt về vấn đề trầm cảm.

Mất ngủ kéo dài
Căn nguyên thực thể luôn được xem xét hàng đầu.Ta tạm chia 2 nhóm:
– Nhóm căn nguyên thần kinh với chấn thương sọ não, các bệnh lý thoái hóa (Parkinson, sa sút tâm thần, xơ cứng rải rác, Creutzfedt-Jakob…), bệnh lý mạch máu não… và nhóm căn nguyên cơ thể khá đa dạng với bệnh lý tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, thận – khớp, nội tiết, chuyển hóa..

–  Nhóm tâm thần kinh luôn là nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất, ước tính từ 30-80% các trường hợp mất ngủ kéo dài theo Vollrath (Thụy Sĩ 1989) Touchon (Pháp 1991) Déalberto (Pháp 1992). Trong nghiên cứu trên 461 bệnh nhân tới khám vì mất ngủ của Garma (Pháp 1993) đã thống kê được là 59,4% có các rối loạn tâm lý tâm thần được chia ra các nhóm sau: rối loạn khí sắc 23,9%, tâm thần phân liệt 4,3%, rối loạn lo âu (lo âu lan tỏa, ám ảnh) 25,6%; các rối loạn khác 6,6%.

Ở TP.Hồ Chí Minh các công trình điều tra về mất ngủ chuyên biệt chưa được thực hiện, chúng ta chỉ có các dữ liệu về mất ngủ thông qua các khảo sát các loại bệnh tâm thần, thí dụ cuộc điều tra trên bệnh nhân đa khoa bị trầm cảm năm 2001 cho thấy con số là 72% bị mất ngủ, 91,4% ở bệnh nhân rối loạn stress sau sang chấn trong cuộc điều tra năm 2001.

III. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu tổng quát   
Khảo sát tỷ lệ mất ngủ trong dân số chung.

2. Mục tiêu chuyên biệt
•    Khảo sát các bệnh lý đi kém, đặc biệt là nhóm tâm thần kinh.
•    Khảo sát các thái độ, tâm lý của các đối tượng mất ngủ về nhìn nhận bệnh cũng như quan niệm về trị liệu của họ.

IV. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
1.Thiết kế nghiên cứu:  Mô tả cắt ngang.
2. Chọn mẫu:
Khảo sát 800 cư dân bốc thăm ngẫu nhiên trong các cụm cư dân trong các quận huyện tại TP.HCM từ 18-65 tuổi.Với độ tin cậy 95%, độ chính xác tuyệt đối d là 3% và tỷ lệ bệnh ước tính trong quần thể P là 25%.

3. Tiến hành nghiên cứu
Các cán bộ y tế sẽ thăm dò các cư dân được phỏng vấn qua bảng câu hỏi phát hiện mất ngủ.Nếu đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán đối tượng sẽ được tiếp tục khám theo bệnh án nghiên cứu gồm phần bệnh lý tâm thần theo bộ câu hỏi MINI
(dựa trên tiêu chuẩn ICD 10) và phần khảo sát thái độ cá nhân với bệnh.

4. Thời gian tiến hành:
Từ tháng 11/ 2004 – 12/2004: biên soạn bộ câu hỏi – bệnh án, in ấn hồ sơ, chọn mẫu, tập huấn.
Từ tháng 1/2005 – 7/2005: tiến hành điều tra.
Từ tháng 08/2005 – 09/2005:  xử lý kết quả bằng phần mềm SPSS.

V.    KẾT QUẢ
V.1.   ĐẶC ĐIỂM MẪU
V.1.1 Giới tính – Dân tộc

Số lượng Tỷ lệ %
Nam 390 51.8
Nữ 363 48.2
Tổng cộng 753 1

 

Số lượng Tỷ lệ %
Kinh 688 91.4
Hoa 63 8.4
Khác 2 0.2
Tổng cộng 753 100

V.1.2 Tình trạng hôn nhân – trình độ học vấn 
V.1.2.1 Tình trạng hôn nhân

Số lượng Tỷ lệ %
Độc thân 95 12.6
Kết hôn 576 76.5
Ly hôn 11 1.5
Ly thân 10 1.3
Góa 59 7.8
Khác 2 0.3
Tổng cộng 753 100

V.1.2.2 Trình độ học vấn

Số lượng Tỷ lệ %
Mù chữ 18 2.4
Biết đọc, viết 55 7.3
Tiểu học 113 15.0
Trung học cơ sở 263 34.9
Phổ thông trung học 217 28.8
Trung cấp 24 3.2
Cao đẳng 14 1.9
Đại học 42 5.6
Sau đại học 6 0.8
Khác 1 0.1
Tổng cộng 753 100

V.1.3 Nghề nghiệp:

Số lượng Tỷ lệ %
Nông nghiệp 14 .1.9
Hành chánh 88 11.7
Công nhân 112 14.9
Buôn bán 157 20.8
Đang đi học 19 2.5
Làm việc nhà 171 22.7
Hưu trí 87 11.6
Nghề tự do 93 12.4
Không nghề nghiệp 11 1.5
Khác 1 0.1
Tổng cộng 753 100


V.1.4 Các thói quen về giấc ngủ:

Số lượng Tỷ lệ %
Thường xuyên nằm giường ngoài giấc ngủ 493 / 753 65.5
Ngủ và thức không đúng giờ 281 / 753 37.3
Ít tập thể dục 387 / 753 51.4
Chỗ ngủ không thoải mái