CÁC AXIT BÉO THIẾT YẾU VÀ SỨC KHỎE TÂM THẦN

1027

Cơ sở sinh học của các rối loạn tâm thần chủ yếu được cho là do thiếu hoặc thừa các chất dẫn truyền thần kinh hoặc các bất thường trong tương tác của chúng với các thụ thể hoặc các chất vận chuyển tương ứng. Do đó, phần quan trọng nhất của nghiên cứu sinh học, từ di truyền đến tâm thần dược lý và từ nghiên cứu các hệ thống chuyển tín hiệu đến hình ảnh phân tử trong cơ thể, đã đặt chất dẫn truyền thần kinh và các protein đích của nó vào vị trí trung tâm. Điều này không phù hợp với thực tế là trọng lượng khô của não bộ ở động vật có vú chứa khoảng 80% lipid (cao nhất trong tất cả các cơ quan) và cả nhiều dữ liệu vững chắc về vai trò quyết định của các lipids, đặc biệt là các acid béo chuỗi dài không no có nhiều nối đôi (long-chain polyunsaturated fatty acids – LC-PUFAs), trong điều hòa chức năng thần kinh. Các acid béo thiết yếu (essential fatty acids – EFAs) là các LC-PUFAs chỉ có được từ thức ăn và chiếm 15-30% trọng lượng khô của não. Tác dụng của chúng rất quan trọng trên động lực học của màng nơ-rôn cũng như trên chức năng của các thụ thể, chất vận chuyển và chất dẫn truyền thần kinh. Ngoài ra, sự  thay đổi được dẫn chứng đầy đủ qua tư liệu trong chế độ ăn ở các nước phương tây ngày càng xa rời các EFAs (đặc biệt là nhóm omega-3) đã xảy ra đồng thời với việc gia tăng rõ rệt của tất cả các rối loạn tâm thần trong thế kỷ vừa qua. Sau cùng, với sự  quan tâm trở lại đến các tương tác lipid – màng nơrôn, hiện có khá nhiều thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát nhằm chứng tỏ hiệu quả của các EFAs trong nhiều bệnh lý tâm thần khác nhau.

SINH HÓA CHỨC NĂNG CỦA CÁC ACIDS BÉO THIẾT YẾU

Các EFAs được chia thành hai nhóm, các acids béo omega-3 và omega-6, tùy theo vị trí của nối đôi đầu tiên vào chuỗi carbon. Các nguồn chính của của EFAs là cá ngâm dầu (oily fish) và một số dầu thực vật. Các EFAs này sau đó được biến đổi thành các LC-PUFAs khác bằng cách kéo dài thêm và trở thành không no. Các EFAs chính liên quan đến hệ thần kinh trung ương là eicosapentaenoic acid (EPA) và docosahexaenoic acid (DHA) (cả hai đều là omega-3) và arachidonic acid (omega-6). Chúng là thành phần quan trọng của các phospholipids và cholesterol esters, cần thiết trong việc tạo thành màng nơrôn, đặc biệt là các màng tiếp hợp và sợi nhánh, và cả những màng nội bào như ti thể và các túi (vesicles).Nếu không sẵn có, chúng sẽ được thay thế bởi các acids béo không thiết yếu, làm thay đổi chức năng của các phân tử phospholipids và ảnh hưởng đến các cấu trúc cấp ba và cấp bốn của các thụ thể gắn vào màng và các chất dẫn truyền thần kinh liên quan. Cấu trúc hai lớp phospholipid của màng tạo thành chất gian bào trong đó các protein của màng, như các thụ thể và các kênh ion, được gắn chặt vào và các protein liên kết với màng có liên quan đến các hệ thống thông tin thứ hai cũng được gắn vào đó.

Ngoài ra, các hệ thống truyền tín hiệu của tế bào được điều chỉnh bởi các sản phẩm của lipids, như diacylglycerols, prostaglandins, leukotrienes, các acids béo tự do và các acids béo hydroxy có nguồn gốc từ các màng phospholipids. Hơn nữa, các EFAs là các tiền chất của eicosanoids, một nhóm phức tạp của các hợp chất có nhiều tác dụng sinh học bao gồm các prostanoids (gồm prostaglandins, thromboxanes và prostacyclins) và leukotrienes. Eicosanoids có nguồn gốc từ các EFAs omega-3 ít có các tác dụng gây viêm so với các eicosanoids có nguồn gốc từ các EFAs omega-6, đây là cơ sở của các tác dụng đối kháng mà đôi khi các nhóm EFAs omega-6 có thể gây ra. Eicosanoids có nhiều chức năng điều hòa trong não và khắp phần còn lại của cơ thể, đặc biệt trong việc điều hoà các đáp ứng miễn dịch và viêm. Hiện nay có nhiều nghiên cứu trên động vật liên quan đến nhiều loại tác dụng có hại kết hợp với các chế độ ăn có chứa ít EFAs. Trong một ví dụ ngược lại, De la Pressa Owens & Innis (1999) đã chứng minh rằng ở lợn được bổ sung EFAs từ lúc mới sinh có sự tăng gấp đôi các monoamines chủ yếu trong vỏ não vùng trán.

CHẾ ĐỘ ĂN HIỆN ĐẠI LIÊN QUAN ĐẾN SỰ GIẢM RÕ RỆT EFAs ĂN VÀO
Hiện nay các nước phương tây đã chuyển sang một chế độ ăn nhiều thịt và chất béo no, cùng vơí việc giảm tiêu thụ rau và cá tươi. Điều này đã đi đôi với việc gia tăng rõ rệt trong việc tiêu thụ các loại dầu từ hạt (như hướng dương và đậu nành) chứa các acid béo không no có nhiều nối đôi, chủ yếu là các EFAs omega-6, không có omega-3. Tỉ lệ omega-6 / omega 3 được ước lượng từ 0.4-2.8/1 trong các chế độ ăn ở thời kỳ đồ đá cũ và thời kỳ tiến triển (Eaton và cs, 1998). Các mô hình này thậm chí không xét đến việc tiêu thụ hải sản, điều sẽ làm cho các tỉ lệ này càng thấp hơn. Tỉ lệ omega-6 /omega-3 hiện nay được ước lượng đã lên đến 17/1 trong chế độ ăn điển hình ở các nước phương tây (Eaton và cs, 1998). Ngoài ra, các động vật hoang dã và được nuôi theo lối chăn thả có nhiều các acids béo omega-3 một cách  rõ rệt trong các mô của chúng so với vật nuôi được sản xuất thương mại hiện nay. Một sự sản xuất quá nhiều các eicosanoids dễ gây nghẽn mạch như thromboxane cũng như dễ gây viêm như leukotrienes và cytokines từ một chế độ ăn quá nhiều EFAs omega-6, đã đưa đến và có thể góp phần làm tăng tỉ lệ bệnh mới của những bệnh như xơ vữa động mạch, nghẽn mạch và nhiều loại bệnh lý viêm khác (Pischon vàcs, 2003). Một sự biến đổi kéo dài như thế trong chế độ ăn, sẽ được bàn đến, cũng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần.

SỰ GIẢM EFAs TRONG CHẾ ĐỘ ĂN ĐI ĐÔI VỚI SỰ GIA TĂNG CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN
Nên nhớ rằng cá là nguồn cung cấp chính các EFAs omega-3, Hibbeln (1998) báo cáo rằng một sự khác biệt đến 60 lần về tỉ lệ bệnh chung hàng năm của trầm cảm nặng giữa các quốc gia có tương quan ngược một cách rõ rệt với lượng cá được tiêu thụ ở các nước đó. Có một quan hệ ngược tương tự trong tỉ lệ bệnh chung của trầm cảm sau sinh và sự tiêu thụ cá. Trong một điều tra 3204 người lớn ở Phần lan, sự  hiếm khi tiêu thụ cá có liên quan với các triệu chứng trầm cảm ở phái nữ (P< 0.001) và một khuynh hướng tương tự, mặc dù không có ý nghĩa thống kê, được ghi nhận ở phái nam (Tanskanen và cs, 2001).

Đối với rối loạn lưỡng cực, nhóm của Hibbeln đã nhận thấy rằng tỉ lệ bệnh này gia tăng rất cao khi mức tiêu thụ cá đầu người hàng năm dưới 75lb, ví dụ với tỉ lệ bệnh chung là 0.04% ở Đài loan (81.6 lb đầu người) và 6.5% ở Đức (27.6 lb đầu người), sự khác biệt đến gần 60 lần. Cũng chính nhóm này chưa nhận thấy sự tương quan giữa việc tiêu thụ cá và tỉ lệ bệnh chung của bệnh tâm thần phân liệt.

Đối với tự sát, việc ăn cá hàng ngày có một tác dụng tích cực (tỉ lệ chênh = 0.81) trong việc làm giảm nguy cơ tử vong do tự sát so với các đối tượng không ăn cá hàng ngày khi theo dõi 256118 người Nhật trong 17 năm (Hirayama, 1990). Đối với sa sút tâm thần, trong một nghiên cứu ở người cao tuổi, nhận thấy việc ăn nhiều acid béo omega-6 có liên quan với sự suy giảm nhận thức và, ngược lại, việc tiêu thụ cá tương quan ngược với sự suy giảm nhận thức, ý nghĩa trong cả hai trường hợp vẫn tồn tại sau khi đã kiểm soát các yếu tố gây nhiễu (Kalmijn và cs, 1997).

CÁC MỨC ĐỘ EFAs THẤP HƠN TRONG BỆNH TÂM THẦN
Trong một nghiên cứu về trầm cảm, Peet và cs (1998) đã nhận thấy rằng các nồng độ chung của acid béo omega-3 bị giảm đi (5.39mg/100mg phospholipid so với 9.04mg/100mg phospholipid ở nhóm chứng; P= 0.02), đặc biệt là DHA (1.61mg/100mg phospholipid so với 2.50mg/100mg phospholipid; P= 0.04), trên màng hồng cầu ở bệnh nhân rối loạn trầm cảm nặng (n=15) so với nhóm chứng bình thường. Cũng chính nhóm này đã báo cáo các dữ liệu tương tự trong bệnh tâm thần phân liệt (Peet và cs, 1995). Chúng tôi đã nhận thấy nồng độ thấp trong huyết tương của cholesterol (Garland và cs, 2000) và EFAs trong các dân số bệnh nhân tự gây hại. Hiện nay cũng có nhiều dữ liệu cho thấy có sự thiếu hụt EFAs trong huyết tương ở bệnh nhân bị rối loạn tăng động thiếu sót chú ý (như Richardson & Puri, 2000) và sa sút tâm thần (Tully và cs, 2003).

BỔ SUNG EFAs TRONG CÁC DÂN SỐ LÂM SÀNG : BẰNG CHỨNG
Có ba trong tất cả bốn thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát (RCT) về bổ sung EFA trong trầm cảm báo cáo có sự cải thiện rõ rệt với sự bổ sung. Nghiên cứu rộng nhất trong các nghiên cứu này (Peet & Horrobin, 2001) liên quan đến 70 bệnh nhân, vẫn được điều trị chuẩn thích hợp trong suốt thử nghiệm; ở liều tối ưu, có hiệu quả gấp ba lần so với placebo, sử dụng tiêu chuẩn giảm 50% điểm số Thang đánh giá trầm cảm Hamilton (HRSD) như là bằng chứng có đáp ứng lâm sàng. Đối với rối loạn lưỡng cực, trong một RCT kéo dài 4 tháng (Stoll và cs, 1999) với liều cao các acid béo omega-3, các bệnh nhân (n=30) có các giai đoạn phục hồi dài hơn trong nhóm được điều trị với omega-3 (P< 0.02) và nhận thấy có sự cải thiện rõ rệt trong các triệu chứng trầm cảm, nhưng không cải thiện trong triệu chứng hưng cảm, điều này gợi ý là các triệu chứng trầm cảm có thể đáp ứng tốt hơn với sự bổ sung so với các triệu chứng hưng cảm. Đối với bệnh tâm thần phân liệt, bằng chứng ít mập mờ hơn. Được xem xét lại mới đây (Joy và cs, 2003) chỉ có một trong năm nghiên cứu nhỏ cho thấy có cải thiện lâm sàng rõ rệt, và cần có thêm những nghiên cứu rộng rãi hơn. Chỉ có các dữ liệu hạn chế và không nhất quán về bổ sung trong rối loạn tăng động thiếu sót chú ý và sa sút tâm thần, mặc dù có các dữ liệu đáng chú ý trong múa giật Huntington (n=17 bệnh nhân) trong đó điều trị không những giúp ổn định mà còn làm đảo ngược các triệu chứng lâm sàng (Vaddadi và cs, 2002).

Có những dữ liệu khác nhau, thường là tích cực ở những dân số bệnh nhân rối loạn nhân cách chống xã hội/ gây hấn/ xung động. Trong một RCT được tiến hành cẩn thận ở các tù nhân trẻ, sự phối hợp các EFAs omega-6 và omega-3 đã làm giảm các hành vi xâm phạm khoảng 26.3%, tăng lên 35.1% nếu việc bổ sung được tiếp tục trong ít nhất 2 tuần (P< 0.01; Gesch và cs, 2002). Sự giảm nhiều nhất xảy ra với những sự cố nghiêm trọng nhất bao gồm sự bạo hành. Trong một nghiên cứu khác (Hallahan & Garland, 2004), các EFAs cũng đã chứng tỏ có ích trong việc ổn định tính gây hấn ở một dân số bình thường các sinh viên đại học trẻ trong thời gian thi kiểm tra (n=41) so với nhóm chứng ngẫu nhiên và ở một dân số (n=30) bệnh nhân bị rối loạn nhân cách ranh giới được điều trị trong 8 tuần.

KẾT LUẬN
Không còn nghi ngờ gì nữa là các lipids não, đặc biệt là các LC-PUFAs có nguồn gốc từ các EFAs, có các tác dụng trực tiếp và gián tiếp rõ rệt trên chức năng não. Không chỉ thành phần lipid của các màng nơrôn ảnh hưởng đến chức năng của các protein gắn chặt vào chúng, nhưng nhiều LC-PUFAs cũng được biến đổi thành các chất có tác động thần kinh. Có bằng chứng rõ chắc chắn là bệnh tâm thần có liên quan đến sự sự suy giảm của các EFAs và, quan trọng hơn, việc bổ sung chúng có thể giúp cải thiện về lâm sàng. Cũng như các quan điểm truyền thống luôn thách thức về nguyên nhân và cách điều trị bệnh tâm thần, các dữ liệu thử nghiệm lâm sàng có thể báo trước một bổ sung đơn giản, an toàn và hiệu quả cho các điều trị chuẩn của chúng ta trong nhiều bệnh lý gây tàn phế cho người bệnh (disabling conditions).

Brian Hallahan & Malcolm R. Garland
British Journal of Psychiatry (2005), 186, 275-277

                                   Người dịch: BSCK2  Nguyễn văn Nuôi
P. Chủ nhiệm Bộ môn Tâm thần ĐHYD TPHCM