Trang chủ » Chuyên đề tâm thần » Rối loạn lưỡng cực

NGUY CƠ TÁI PHÁT CƠN HƯNG CẢM KHI DÙNG ĐƠN THUẦN THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM TRONG ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN KHÍ SẮC LƯỠNG CỰC

Bệnh nhân (BN) rối loạn khí sắc lưỡng cực (RLKSLC) đơn trị liệu thuốc chống trầm cảm (CTC) có nguy cơ gia tăng khởi phát cơn hưng cảm. Trái lại, BN RLKSLC đang điều trị với thuốc CTC và thuốc điều chỉnh khí sắc không cho thấy có nguy cơn trên. Đây là kết quả nghiên cứu của Bs Alexender Viktorin và cs tại Viện Karolinska Stokholm.

Trong mẫu nghiên này các tác giả chứng minh nguy cơ khởi phát cơn hưng cảm sau khi điều trị thuốc CTC trong số BN RLKSLC bị giới hạn bởi con số lớn BN đơn trị liệu thuốc CTC.

Như vậy nghiên cứu này thích hợp với việc khuyến khích cần thiết trị liệu trong tương lai, thận trọng khi đơn trị liệu  thuốc CTC trong điều trị giai đoạn trầm cảm lưỡng cực vì nguy cơ xuất hiện cơn hưng cảm. Phương pháp này đã được đồng thuận và mới được khuyến cáo trong sử dụng thuốc CTC điều trị RLKSLC tại Hội Quốc tế về RLKSLC.

Nghiên cứu này đăng trên Tạp chí Tâm thần Hoa kỳ ngày 17/6/2014.

Các tác giả nhấn mạnh cả Cơ quan Dược phẩm Châu Âu và FDA Hoa Kỳ đều chấp thuận đơn trị liệu với bất cứ một thuốc CTC chuẩn nào trong trầm cảm lưỡng cực. Phác đồ điều trị đề xuất điều trị thuốc CTC chỉ kết hợp với thuốc điều chỉnh khí sắc ở BN RLKHLC.

Sử dụng số liệu quốc gia, 3240 BN được chẩn đoán RLKSLC, là những BN không được dùng thuốc CTC trong thời gian một năm trước và đã được bắt đầu đơn trị liệu thuốc CTC hoặc kết hợp với thuốc điều chỉnh khí sắc. Kết quả 1117 (34,4%) BN được điều trị thuốc CTC đơn thuần và nguy cơ gia tăng xuất hiện cơn hưng cảm lớn hơn 2 lần (HR 2.83; CI 95%, 1.12 – 7.19). Trong số BN được điều trị kết hợp thuốc điều chỉnh khí sắc, nguy cơ cơn hưng cảm cấp không xuất hiện trong thời gian 3 tháng đầu điều trị trầm cảm (HR 0.79; CI 95%, 0.54 – 1/15) cũng như không gia tăng nguy cơ xuất hiện cơn hưng cảm trong thời gian từ 3 – 9 tháng sau khi bắt đầu điều trị (HR 0.63; CI 95%, 0.42 – 0.93).

Ts Bs Tâm thần R. Scott Hamilton, Trung tâm McLean County for Human Sercives Bloomington, Illinois cho biết phát hiện các thuốc điều chỉnh khí sắc có tác dụng phòng ngừa khởi phát cơn hưng cảm (ở BN RLKSLC) là hữu ích và làm an tâm bác sĩ điều trị, vì hiện tại RLKSLC và trầm cảm điều trị khó khăn.

Lý giải con số hơn 1/3 BN RLKSLC trong nghiên cứu này dùng thuốc CTC đơn thuần, Ts Hamilton cho hay: “Đôi khi các bác sĩ quên không chẩn đoán RLKSLC và chỉ dùng thuốc CTC, và cũng đôi khi kết quả điều trị cuối cùng với thuốc CTC không tốt”.

“Đa số các bác sĩ tâm thần xem xét không khôn ngoan khi sử dụng đơn trị liệu thuốc CTC ở BN RLKSLC. Có thể có một số BN RLKSLC ở mức độ nhẹ và cần dùng thuốc điều chỉnh khí sắc nhưng họ từ chối và đồng ý với đơn trị liệu thuốc CTC.

Trong thực tế điều trị ngoại trú hiện nay, BN được chẩn đoán trầm cảm khá nhiều. Nhưng có thể vì tới khám chuyên khoa trễ, vì khai bệnh không rõ ràng về các triệu chứng hưng cảm xảy ra trước đó nhiều hay ít, thời gian kéo dài bao lâu, và đôi khi cho rằng các biểu hiện hưng cảm (nếu ở mức độ nhẹ) là bình thường (chỉ là có thời gian thấy vui vẻ – mà sao đợt này buồn rầu mất ngủ). Đồng thời, thời gian khám bệnh ngắn, không đủ để xem lại hồ sơ bệnh án hay hỏi lại các bất thường trước khi “bị” trầm cảm như đang khai bệnh nên các bác sĩ “quên” các giai đoạn bệnh trước và do đó, chẩn đoán RL KSLC ít được đề cập tới. Hơn nữa, để chẩn đoán RL KSLC đầy đủ các thể và giai đoạn lâm sàng khá phức tạp đòi hỏi kiến thức tổng quan của các bác sĩ và sự hiểu biết nhất định của người bệnh. Theo các nhà nghiên cứu Âu – Mỹ, phần lớn các RL KSLC được chấn đoán khá trễ (khoảng 09 năm) sau khi bắt đầu khởi phát các triệu chứng bệnh lần đầu tiên.

Một vấn đề nữa là hiện nay chưa có nhiều loại thuốc điều chỉnh khí sắc để các bác sĩ lựa chọn. Loại thuốc điều chỉnh khí sắc được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới chưa phổ biến vì trong quá trình uống, BN phải đo nồng độ thuốc trong máu mà chúng ta chưa có điều kiện hoặc quá đắt tiền hay phiền toái. Một số loại lưu hành không chính thức nhưng khi sử dụng mà không được cung cấp đều và đủ thì sẽ khó khăn cho người bệnh. Một số loại khác sẵn có được các bác sĩ kê toa nhiều nhưng một số BN vẫn than phiền về các tác dụng không mong muốn.

Vấn đề khác nữa là BN RL KSLC được xem là một trong số các BN tâm thần kém tuân thủ điều trị nhất. Do vậy, nếu “không vừa ý” hoặc bệnh được cải thiện ít nhiều trong một thời gian ngắn là tự cho là “hết bệnh” nên không uống thuốc nữa. Sự tuân thủ kém này khó tránh khỏi tái diễn cơn hưng trầm cảm.
Bs CK II Phạm Văn Trụ Bv TT Tp HCM

Theo Megan Brooks. Risk for Manic Switch With Solo Antidepressant in Bipolar. Medscape Medical News > Psychiatry. June 30, 2014

Tags: