Trang chủ » Chuyên đề tâm thần » Tâm lý lâm sàng

Những biến đổi của tuổi dậy thì (TT)

Nguyên tác: Trois essais sur la théorie de la sexualité.
Tác giả: Sigmund Freud
Nhà xuất bản : Idées Gallimard
Năm 1923

(tiếp theo và hết)

III.    Thuyết “dục năng” (Libido)

Giả thuyết theo đó, kích thích tình dục dựa trên cơ sở hóa học rất phù hợp với những quan niệm mà chúng ta đã xây dựng để giúp chúng ta hiểu và chế ngự những biểu hiện tinh thần của đời sống tình dục. Chúng ta dừng lại ở khái niệm “dục năng”, thực chất đây là một sự thúc bách, có thể thay đổi về số lượng, cho phép chúng ta xác định được những quá trình và những biến đổi trong phạm vi kích thích tình dục. Chúng ta phân biệt “dục năng” với năng lượng được xem như là cơ bản của tất cả các quá trình tinh thần nói chung. Sự phân biệt này phù hợp với bản chất, nguồn gốc của “dục năng”. Ngoài tính chất về mặt số lượng chúng ta gắn thêm cho nó tính chất về mặt chất lượng. Khi chúng ta phân biệt năng lượng của “dục năng” với tất cả các năng lượng tinh thần khác, chúng ta giả định rằng những quá trình tình dục của cơ thể phân biệt với những chức năng nuôi dưỡng bởi một chất đặc biệt. Phân tích những lệch lạc tình dục và những biểu hiện loạn tâm thần kinh cho thấy rằng, kích thích tình dục này không chỉ xuất phát từ những vùng sinh dục thực thụ, mà nó xuất phát từ tất cả những cơ quan khác. Chúng ta cũng xây dựng một khái niệm về số lượng của “dục năng”, mà đại diện của nó chính là cái chúng ta gọi là “dục năng của cái tôi” sự phát sinh, gia tăng, thuyên giảm, phân chia và sự di chuyển của nó có lẽ cung cấp cho chúng ta những phương tiện để giải thích những hiện tượng tâm lý – tình dục.

Tuy nhiên “dục năng của cái tôi” chỉ trở nên dễ nhận thấy khi nó xâm nhập vào đối tượng tình dục, có nghĩa là khi nó trở thành “dục năng đối tượng” như vậy,  chúng ta chỉ nhận ra khi nó tập trung trên các đối tượng, gắn vào chúng hay từ bỏ chúng để hướng đến những đối tượng khác và ở những vị trí mà nó thống trị sẽ điều khiển những hoạt động tình dục của cá thể, cuối cùng dẫn đến những thỏa mãn, có nghĩa là, đến một sự dập tắt từng phần và tạm thời của “dục năng”. Phân tâm học đã đưa ra những bệnh loạn thần kinh chuyển di (hysterie và loạn thần kinh ám ảnh) cho phép đi đến một kết luận chắc chắn về điểm này.

Liên quan đến “dục năng đối tượng” chúng ta biết rằng, khi tách ra khỏi các đối tượng nó tồn tại ở một trạng thái lơ lửng, trong các tình trạng căng thẳng đặc biệt và cuối cùng nó đi vào trong “cái tôi” để trở thành “dục năng của cái tôi”. Chúng ta cũng chỉ ra rằng “dục năng của cái tôi” đối nghịch với “dục năng đối tượng” là “dục năng tự yêu”. Phân tâm học đưa chúng ta tới cái nhìn vào một lĩnh vực mà nó chưa cho phép chúng ta khám phá, đó chính là “dục năng tự yêu”  và cho phép chúng ta thiết lập mối quan hệ giữa hai “dục năng” này. “Dục năng của cái tôi” hay “dục năng tự yêu” tạo thành một bình dự trữ lớn, từ đó xuất phát những sự đầu tư vào đối tượng, hướng về đối tượng này mà sự đầu tư “dục năng” được dẫn đi. Sự đầu tư tình dục của “cái tôi” đối với chúng ta có vẻ là một trạng thái nguyên bản, được thực hiện ở thời thơ ấu, trạng thái mà nó bị che dấu khi mà “dục năng” định hướng ra bên ngoài, nhưng thực chất nó vẫn được duy trì.

Một thuyết về “dục năng” có tham vọng giải thích những rối loạn thần kinh và tâm thần, phải giải thích được tất cả các hiện tượng quan sát thấy và những gì mà người ta có thể rút ra kết luận từ hệ quả của các phân tích về chính “ dục năng”. Người ta giả định dễ dàng rằng, những biến đổi “dục năng của cái tôi” sẽ là một điều quan trọng chủ yếu, nhất là từ đó, nó có thể giải thích những rối loạn sâu xa của bản chất loạn thần. Điều mang đến một sự khó chịu đó chính là, nếu cho đến nay, phân tâm học cho chúng ta một cách chắc chắn về những biến đổi của “dục năng đối tượng” thì ngược lại, phân tâm học còn chưa phân biệt được một cách rõ ràng giữa “dục năng của cái tôi” và các năng lượng khác mà chúng tác động trong “cái tôi”. Chính vì vậy, bây giờ người ta chỉ có thể theo đuổi một lý thuyết “dục năng” bằng phương pháp biện luận. Nếu chúng ta chối bỏ tất cả những gì mà những quan sát phân tâm đem lại cho chúng ta cho đến hiện nay, với C.G.Jung người ta đã làm yếu đi khái niệm “dục năng” khi xác định nó cũng là năng lượng tinh thần nói chung.

Sự phân biệt những xung động tình dục với những cái khác, giới hạn của khái niệm “dục năng” với những xung động tình dục, biểu hiện cơ sở vững vàng trong giả thuyết mà chúng ta đã xây dựng ở trên liên quan đến một chất đặc biệt của chức năng tình dục.

IV.    Sự khác nhau về giới tính

Người ta biết rằng, chỉ có ở giai đoạn dậy thì mới thấy xuất hiện một sự phân biệt rõ ràng giữa nam tính và nữ tính, đối lập nhau và sau đó tác động quyết định lên toàn bộ đời sống cá thể. Rõ ràng rằng những thiên hướng nam và nữ đã biểu hiện sớm ngay từ giai đoạn thơ ấu. Sự phát triển của những ức chế tình dục (sự xấu hổ, sự kinh tởm, lòng thương hại) xuất hiện sớm hơn ở những trẻ gái và gặp phải ít sự kháng cự hơn ở trẻ trai. Cũng ở các trẻ gái, một sự nghiêng về sự dồn nén có vẻ đóng một vai trò quan trọng và khi những xung động tình dục từng phần xuất hiện, chúng thiên về dạng thụ động. Tuy nhiên hoạt động tự thỏa dục của những vùng gợi dục thì giống nhau ở cả hai giới, điều này gây cản trở cho việc biểu hiện sự khác nhau giữa hai giới trong giai đoạn thơ ấu. Nếu chúng ta xem xét kỹ lưỡng những biểu hiện tự thỏa dục và thủ dâm, chúng ta có thể đưa ra một luận đề rằng, tình dục ở trẻ  gái có một đặc tính của bản chất nam. Hơn nữa dựa vào những quan niệm nam, nữ, những khái niệm cụ thể hơn, người ta có thể khẳng định rằng “dục năng” bản chất của nó là nam tính dù nó xuất hiện ở nam hay ở nữ, không kể đối tượng của nó là nam hay nữ.
Từ khi mà tôi có một hiểu biết về thuyết lưỡng tính, tôi rất tâm đắc về yếu tố này và tôi tin rằng, người ta không thể giải thích được những biểu hiện tình dục của nam và của nữ nếu không tính đến yếu tố này.

Vùng kích dục ở nam và nữ: ở nữ, vùng kích dục nằm ở âm vật, nó giống như ở nam, nằm ở quy đầu. Tất cả kinh nghiệm của tôi cho thấy rằng ở hiện tượng thủ dâm của trẻ gái, âm vật có một vai trò quan trọng, trong khi những vùng sinh dục ngoài khác, vai trò quyết định của nó trong đời sống tình dục chỉ xuất hiện về sau này. Đối với trẻ gái, rất ít trường hợp ngoại lệ, dưới ảnh hưởng của sự quyến rũ mà không dẫn đến thủ dâm âm vật. Những biểu hiện tình dục tự nhiên mà người ta thường thấy rất phổ biến ở những trẻ gái như co thắt âm vật và những sự cương cứng rất thường xuyên của bộ phận này, đủ để giảng giải trên những biểu hiện tình dục ở trẻ nam, cho phép chúng diễn đạt bởi chính cảm giác mà chúng cảm nhận được.

Nếu người ta muốn hiểu quá trình diễn biến từ trẻ gái trở thành người phụ nữ thì phải đi theo những giai đoạn khác nhau mà kích thích âm vật cũng trải qua trong những giai đoạn này. Tuổi dậy thì ở trẻ trai đưa đến một sự bùng phát của “dục năng”, nhưng ở trẻ gái có đặc điểm là nó lại mang lại một đợt dồn nén mới, đặc biệt, nó đạt được sự khoái cảm âm vật. Cái mà bị dồn nén đó là yếu tố nam tính. Một sự củng cố những trở ngại đối lập về giới xuất hiện khi có sự dồn nén đặc trưng của tuổi dậy thì, đưa đến một yếu tố kích thích “dục năng” của nam và đưa đến một hoạt động mãnh liệt hơn. Tỷ lệ thuận với việc gia tăng “dục năng”, sự đánh giá quá cao về tình dục cũng xuất hiện và đạt đến một sự hoàn toàn thỏa mãn. Trong khi đó phụ nữ từ chối và phủ nhận giới tính của mình. Âm vật, khi nó bị kích thích trong hoạt động tình dục, lúc này cuối cùng phụ nữ cũng chấp nhận, âm vật giữ vai trò của nó là truyền sự kích thích đến những bộ phận sinh dục kế cận, giống như cách một que diêm sử dụng để đốt cháy những vật khó cháy hơn. Đôi khi, nó phải trải qua một thời gian nào đó trước khi sự truyền kích thích này  xảy ra, trong thời gian này, người phụ nữ trẻ không nhạy cảm với sự vui thú. Một sự vô cảm như thế có thể được hình thành từ thời thơ ấu một cách bền vững, khi vùng âm vật không truyền kích thích của nó – điều này có thể nguyên nhân chủ yếu là do sự hoạt động quá mức của âm vật trong thời kỳ thơ ấu. Chúng ta biết rằng  sự vô cảm của phụ nữ thường là vẻ ngoài và chỉ là cục bộ. Những sự không đáp ứng với các kích thích của lỗ âm đạo không phải đối với những kích thích xuất phát từ âm vật hay đối với những vùng khác. Thêm vào những nguyên nhân gây vô cảm này là những nguyên nhân khác có tính chất tinh thần, như là những nguyên nhân đầu tiên điều kiện hóa bởi một sự dồn nén.

Khi sự truyền kích thích tình dục từ âm vật tới lỗ âm đạo được thực hiện, một thay đổi vùng dẫn truyền đã xảy ra ở phụ nữ, đời sống tình dục của người phụ nữ trong tương lai sẽ phụ thuộc vào sự thay đổi này, trong khi đó ở nam vẫn duy trì ở vùng cũ từ thời thơ ấu. Với sự thay đổi vùng kích dục, sự bùng nổ của sự dồn nén trong giai đoạn dậy thì có thể nói đã thủ tiêu tính chất nam tính tình dục ở trẻ gái, chúng ta nhận thấy những điều kiện tạo ra những nguy cơ loạn thần kinh ở nữ giới và đặc biệt là bệnh hysterie. Những tình trạng này phụ thuộc chặt chẽ vào bản chất của nữ tính.

V.    Sự khám phá ra đối tượng

Trong cùng thời gian, khi quá trình dậy thì đưa đến sự thống trị của những vùng sinh dục, sức ép này lên dương vật, làm cho nó trở nên cương cứng  chỉ ra một mục đích mới, có nghĩa là xâm nhập vào một bộ phận mà nó sẽ sinh ra kích thích, sự phát triển tâm thần cho phép tìm ra đối tượng tình dục, điều mà đã được chuẩn bị từ thơ ấu. Ở giai đoạn mà sự thỏa mãn tình dục liên quan đến sự hấp thụ thức ăn, xung động tìm thấy đối tượng của nó ở bên ngoài, từ bầu sữa mẹ. Đối tượng này theo thời gian đã mất đi, có lẽ chính xác là khi mà trẻ có khả năng nhìn nhận trọn vẹn cơ thể mình và nhận biết rằng, trên cơ thể có những bộ phận đem lại cho trẻ sự thỏa mãn, sung sướng. Xung động tình dục lúc này là tự thỏa dục, và chỉ khi trải qua giai đoạn tiềm ẩn, thì mối quan hệ đích thực mới tái lập lại. Không phải không có lý rằng, trẻ em bên bầu sữa mẹ đã trở thành nguyên mẫu của tất cả các quan hệ yêu thương. Tìm thấy đối tượng tình dục, tóm lại là tìm lại được điều này.

•    Đối tượng tình dục trong giai đoạn bú mẹ:
Tuy nhiên, mối quan hệ tình dục này là đầu tiên và quan trọng hơn tất cả, thậm chí nó còn tồn tại sau khi trẻ đã ngưng bú mẹ, một dấu ấn quan trọng góp phần vào sự chuẩn bị lựa chọn đối tượng, cũng như là tìm lại niềm hạnh phúc đã mất. Trong suốt giai đoạn tiềm ẩn, trẻ học để yêu thương những ngưới khác, những người giúp đỡ trẻ trong những nỗi buồn khổ sâu xa và đáp ứng, thỏa mãn những nhu cầu của chúng. Tình yêu này được hình thành theo kiểu mẫu những quan hệ được hình thành với mẹ trong quá trình bú mẹ. Có thể người ta từ chối xác định những tình cảm âu yếm và sự yêu thương của trẻ đối với những chăm sóc chúng với tình yêu tình dục. Nhưng tôi tin rằng một sự nghiên cứu tâm lý sâu xa hơn nữa có thể thiết lập một sự xác định tuyệt đối chính xác điều này. Đối với trẻ, mối quan hệ giữa chúng và những người chăm sóc là một nguồn kích thích và thỏa mãn tinh dục liên tục, xuất phát từ những vùng gợi dục. Điều này còn hơn thế nữa, người chăm sóc trẻ (thường là người mẹ) còn chứng tỏ đối với trẻ những tình cảm xuất phát từ đời sống tình dục của chính họ, sự ôm hôn, nựng nịu, chiêm ngưỡng không còn ghi ngờ gì nữa, như một sự thay thế đối tượng yêu trọn vẹn. Có lẽ rằng một người mẹ sẽ hoàn toàn ngạc nhiên nếu chúng ta nói với bà rằng, bà ta đã đánh thức xung động tình dục của con bà bằng chính bởi những sự âu yếm và cũng chính bà là người quyết định cường độ của xung động này trong tương lai. Bà ta tin rằng những cử chỉ của bà hoàn toàn là một tình yêu không tình dục, trong sáng, ở đó không có chỗ cho tình dục xen vào, bởi vì bà ta tránh không đụng chạm, kích thích vào những bộ phận sinh dục của trẻ. Nhưng xung động tình dục, như chúng đã biết không chỉ thức dậy bởi kích thích những bộ phận sinh dục, cái mà chúng ta gọi là sự âu yếm, đến một ngày nào đó chắc chắn sẽ có  ảnh hưởng đến vùng sinh dục, mặt khác nếu người mẹ được huấn luyện tốt hơn về sự quan trọng của những xung động tình dục trong toàn bộ đời sống tinh thần, trong tất cả các hoạt động đạo đức và tinh thần bà ta sẽ tránh được việc cho mình là không phạm sai lầm, bởi vì người mẹ chỉ làm tròn trách nhiệm của mình khi bà ta học được cách yêu con mình, để trẻ trở nên một con người hoàn toàn khỏe mạnh, có một cuộc sống tình dục phù hợp, trưởng thành để chịu đựng được tất cả mọi điều mà xung động đòi hỏi. Rõ ràng rằng sự âu yếm, vuốt ve quá mức của cha mẹ sẽ trở nên có hại vì nó sẽ đưa đến hoạt động nhục dục sớm ở trẻ. Điều này làm hỏng trẻ, làm cho trẻ trong một thời gian không thể tách ra được nhục dục, hay không thể thỏa mãn với một tình yêu đúng mức. Điều mà trẻ không thể thỏa mãn với sự âu yếm của cha mẹ là một trong những điều quan trọng, báo hiệu cho một tình trạng loạn thần kinh về sau này đối với trẻ. Mặt khác rõ ràng như chúng ta đã biết, những bậc cha mẹ loạn thần kinh thiên về một sự âu yếm quá mức đã khơi dậy những tiền tố bẩm sinh của trẻ, đưa đến những loạn thần kinh. Ví dụ này cho chúng ta thấy có những con đường ảnh hưởng trực tiếp, còn hơn cả di truyền trong bệnh loạn thần kinh ở trẻ.

•    Lo sợ trẻ em: hành vi của trẻ ngay từ khi mới sanh ra cho chúng ta thấy rằng, sự gắn bó với những người chăm sóc chúng là bản chất tình dục. Lo sợ ở trẻ em, nguồn gốc không có gì khác, mà chính là sự lo sợ khi cảm thấy vắng người mà trẻ yêu mến. Tại sao trẻ luôn lo sợ khi gần những người lạ, trẻ lo sợ trong bóng tối bởi vì lúc đó, trẻ không nhìn thấy người mà trẻ yêu mến. Sự lo sợ này chỉ giảm đi khi trẻ cầm được tay người trẻ cần. Chúng ta đã cường điệu hóa những câu chuyện rùng rợn về người sói, phù thuỷ, ma quỷ và cho rằng chúng là thủ phạm của nỗi lo sợ trẻ em. Chỉ có những trẻ em tiền bệnh lý mới giữ lại những ấn tượng bởi những câu chuyện như vậy, còn đối với những trẻ bình thường, chúng hoàn toàn không bị ảnh hưởng gì. Những trẻ mà xung động tình dục xuất hiện sớm, hay trở nên quá mức và bức bách biểu hiện một tiềm ẩn đối với lo sợ. Trẻ em ứng xử trong những trường hợp này giống như người lớn. Dục năng của trẻ chuyển thành lo sợ ngay khi mà nó không đạt được một sự thỏa mãn. Người lớn trở nên loạn thần kinh cũng bởi vì dục năng không được thỏa mãn và cũng ứng xử giống như trẻ em trong những lo sợ. Họ trở nên sợ khi ở một mình, có nghĩa là thiếu vắng đối tượng yêu, họ không thể làm sao thỏa mãn được. Để làm giảm đi sự lo sợ này, họ cũng phải cầu cứu vào những biện pháp trẻ con nhất.

•    Rào cản chống lại sự loạn luân: nếu sự âu yếm của cha mẹ đúng mức, không làm thức dậy những xung động tình dục sớm, có nghĩa là nếu nó tránh được sự tạo ra một cường độ kích thích về tinh thần trên hệ thống sinh dục trước khi các điều kiện thể chất của tuổi dậy thì đã sẵn sàng. Như vậy sự âu yếm này đã hoàn tất “nghĩa vụ” được giao phó và nó dẫn trẻ trở thành trưởng thành trong sự chọn lựa đối tượng tình dục. Chắc chắn trẻ có xu hướng tự nhiên, chọn những người mà trẻ đã âu yếm từ thời thơ ấu, với một “dục năng” ở chừng mực nào đó. Nhưng thực tế không phải như vậy. Trẻ có đủ thời gian cần thiết để được dậy dỗ, bên cạnh những ức chế tình dục khác tạo ra một rào cản “chống lại sự loạn luân”. Trẻ em đã có thể thu nhận những nguyên tắc về đạo đức, không dung thứ cho những chọn lựa đối tượng trong những người trẻ em yêu mến thời thơ ấu, có chung một dòng máu với trẻ. Một sự ức chế như thế được đòi hỏi bởi xã hội, bắt buộc gia đình sử dụng tất cả mọi sức mạnh có thể để xây dựng một xã hội có tổ chức cao, xã hội sử dụng mọi phương tiện để các thành viên trong gia đình, đặc biệt là trẻ vị thành niên nới lỏng ra những liên hệ gia đình đã tồn tại trong giai đoạn thơ ấu.

Nhưng lúc đầu, sự lựa chọn đối tượng thực hiện dưới dạng biểu tượng và đời sống tình dục của trẻ vị thành niên trong lúc này chỉ có thể từ bỏ đối với những huyễn tưởng, có nghĩa là những biểu tượng mà không thể thực hiện. Trong những huyễn tưởng, người ta nhận thấy ở tất cả mọi người, những xu hướng của trẻ em được củng cố bởi sự phát triển về cơ thể và trong những xu hướng này, quan trọng nhất và thường xuyên nhất là xu hướng tình dục của trẻ đối với cha mẹ, trẻ trai hướng về mẹ và trẻ gái hướng về cha. Trong lúc những huyễn tưởng loạn luân bị huỷ bỏ và vượt qua, cũng là lúc hoàn tất một quá trình tâm lý đặc trưng của giai đoạn dậy thì, nó là một trong những điều quan trọng bậc nhất, nhưng đồng thời cũng đau đớn nhất, biết cố gắng thoát ra khỏi quyền uy của cha mẹ, chỉ có điều này mới tạo ra sự chống đối, đấu tranh và đây là điều rất quan trọng cho sự tiến bộ giữa thế hệ mới và thế hệ trước. Người bình thường đều trải qua các giai đoạn này trong quá trình phát triển. Nhưng có một số người, có thể dừng lại ở giai đoạn nào đó, chính vì vậy mà ta có thể nhận thấy có những người không bao giờ thoát ra khỏi uy quyền của cha mẹ, họ không thể làm sao tách ra khỏi những ảnh hưởng của cha mẹ, không thể từ bỏ những tình cảm thơ ấu của mình. Thường gặp nhất là những trẻ gái được cha mẹ cưng chiều. Khi đến tuổi dậy thì, vẫn hoàn toàn không thoát ra khỏi tình yêu “gia đình”. Thật lý thú khi nhận thấy những cô gái này khi lấy chồng, họ không thể hiến dâng cho chồng mình tất cả những gì mà họ có thể làm. Họ là những người vợ lạnh lùng, vô cảm. Tóm lại tình yêu “gia đình” vẻ ngoài không tình dục và tình yêu tình dục cũng có nguồn gốc chung, có nghĩa là tình yêu “gia đình” chỉ là một sự dừng lại, gắn vào giai đoạn trẻ em của “dục năng”.

Càng xem xét kỹ đối với những rối loạn sâu sắc về quá trình tiến triển của tâm lý tình dục, chúng ta càng nhận ra sự quan trọng của những yếu tố loạn luân trong việc chọn lựa đối tượng. Trong những trường hợp loạn tâm thần kinh, hoạt động tâm lý tình dục tìm kiếm đối tượng vẫn còn tồn tại ở vô thức một phần lớn hay toàn bộ do sự phủ nhận tình dục. Những trẻ gái  cảm thấy một nhu cầu âu yếm quá độ, đồng thời cũng cảm thấy một sự ghê sợ quá mức trước những đòi hỏi của đời sống tình dục, đã đẩy chúng đến một sự cám dỗ không thể cưỡng lại được. Một mặt tìm kiếm một đời sống tình dục lý tưởng, mặt khác lại che giấu “dục năng” của họ bởi một sự âu yếm mà họ có thể biểu lộ mà không bị trách cứ trong khi giữ nguyên vẹn những sự quyến luyến của họ đối với cha mẹ, anh chị em. Phân tâm học nghiên cứu thông qua những triệu chứng bệnh, những ý tưởng vô thức và dẫn dắt chúng, ý thức hóa chúng và không khó khăn gì, những nhà phân tâm nhận ra những cá nhân có một tình yêu đối với cha mẹ với ý nghĩa đích thực của tình yêu. Cũng tương tự, có những người đã có một cuộc sống tình dục bình thường, nhưng biểu hiện những tính chất bệnh, sau một tình yêu bất hạnh. Có thể chứng minh chắc chắn rằng, cơ chế của nó là một sự quay trở lại  của “dục năng” đối với những người yêu mến trong thời thơ ấu.

•    Tác động lâu dài của sự chọn lựa trẻ em: những người tránh được một tình yêu loạn luân, nhưng không phải là không còn bị ảnh hưởng bởi điều này. Không còn nghi ngờ gì nữa, một sự ảnh hưởng của giai đoạn ấu thơ đã dẫn một trẻ trai đi đến chọn lựa người yêu đầu nghiêm túc của mình là một phụ nữ lớn tuổi và trẻ gái là một người đàn ông lớn tuổi. Những người này đã làm sống lại hình ảnh của cha mẹ họ. Chúng ta có thể đồng ý rằng, sự lựa chọn đối tượng nói chung dựa trên hai kiểu. Trước tiên con trai tìm kiếm hình ảnh của mẹ mình, hình ảnh đã “thống trị” trong thời thơ ấu. Điều này rất phù hợp với hiện tượng, nếu mẹ chồng còn sống thường đối kháng dữ dội với con dâu, cũng  chính là phiên bản mới của mình, tỏ ra một sự hận thù. Nếu chúng ta tính đến sự quan trọng của các mối liên hệ của con cái với cha mẹ đối với việc xác định đối tượng tình dục về sau này, chúng ta không khó khăn để hiểu rằng, tất cả những gì làm rối loạn các mối quan hệ này ở trẻ em, sau này sẽ trở nên trầm trọng hơn đời sống tình dục ở tuổi trưởng thành. Cũng vậy sự ghen tuông ở những người đang yêu không nghi ngờ gì, chính là có nguồn gốc từ những trải nghiệm thời thơ ấu, hay ít nhất nó cũng được củng cố bởi những trải nghiệm này. những sự mâu thuẫn, xáo xào của cha mẹ, một cuộc hôn nhân bất hạnh sẽ đưa đến những tiền tố nặng nề đối với những rối loạn quá trình phát triển tình dục, hay những rối loạn thần kinh ở trẻ em.

Sự quyến luyến  của trẻ em đối với cha mẹ của chúng để lại những dấu ấn có thể là quan trọng bậc nhất. Chúng sẽ được sống lại ở tuổi dậy thì và tác động vào xu hướng chọn đối tượng của chúng. Nhưng đó không phải là yếu tố duy nhất. Còn có những phương diện khác mà cũng có nguồn gốc sâu xa, cho phép người trưởng thành phỏng theo những trải nghiệm thời thơ ấu để phát triển những dạng tình dục, có nghĩa là hình thành ở những tình thế khác nhau trong việc xác định đối tượng chọn lựa.

•    Phòng ngừa sự đảo ngược đối tượng: rõ ràng rằng, mục đích của sự chọn lựa đối tượng là tìm thấy một đối tượng khác giới. Vấn đề chúng ta biết rằng, nó chỉ được giải quyết sau một vài sự mò mẫm. Đến tuổi dậy thì, trẻ trai thường lầm lạc trong những hành động ban đầu, cho dù những sai lầm này đưa đến những nỗi đau khó quên. Người ta nhận thấy, trẻ vị thành niên cùng giới gặp gỡ với nhau trong những tình cảm cuồng nhiệt hay rất mơ mộng, tiểu thuyết. Sức mạnh để ngăn chặn sự đảo ngược tiếp diễn chính là sự quyến rũ của những tính cách của những người khác  giới tác động lên nhau. Ở đây, trong khuôn khổ của cuốn sách này, chúng ta không thể đưa ra một giải thích cho hiện tượng này. nhưng chỉ riêng yếu tố này thì cũng chưa đủ để ngăn cản sự đảo ngược còn những yếu tố khác thêm vào tác động theo cùng một hướng. Có lẽ phải đưa ra đầu tiên, đó là ảnh hưởng ức chế của xã hội. Mặc dù điều này xã hội không xem như một tội ác, chúng ta có thể nhận thấy rằng nó cũng chỉ là một ham muốn tình dục của nhiều người. Chúng ta cũng giả định rằng, ở nam giới những kỷ niệm của thời thơ ấu trong thời gian được sống trong sự âu yếm của mẹ hay của những phụ nữ khác trong gia đình có ảnh hưởng quyết định, dẫn dắt sự chọn lựa đối tượng là phụ nữ. Trong khi đó sự dọa nạt mang tính tình dục của người cha đối với trẻ trai, làm cho chúng coi người cha như một địch thủ, cũng làm chúng hướng đến đối tượng khác giới. Ở trẻ gái cũng chịu tác động bởi hai yếu tố này, hoạt động tình dục của trẻ gái phát triển dưới sự giám sát của người mẹ, cũng vậy thiết lập một thái độ thù ghét đối với giới tính của chính chúng. Điều này có một ảnh hưởng quyết định đến sự lựa chọn đối tượng của chúng trong những trường hợp bình thường. Sự nuôi dạy những trẻ trai bởi những người nam giới là những nô lệ, có vẻ tạo thuận lợi phát triển tình trạng đồng tính. Sự xuất hiện đồng tính trong những gia đình quý tộc ngày nay đã giải thích rõ hơn điều này. Trong những gia đình quý tộc người ta thường sử dụng những người giúp việc là nam giới. Những người mẹ thường rất ít chăm sóc con mình. Trong một số trường hợp hysterie, người ta nhận thấy rằng có những hoàn cảnh đã xác định việc chọn đối tượng tình dục, và làm gắn vào, cố định vào một sự đảo ngược thường trực, nguồn gốc của nó là do trong những gia đình đã mất sớm cha hoặc mẹ, hoặc là chết, hoặc ly dị, ly thân và trẻ đã dành hết tình yêu của chúng  cho người còn ở cùng với chúng.
 

BS Trịnh Tất Thắng, BS CK 1. Giám Đốc Bệnh Viện Tâm Thần Thành Phố Hồ Chí Minh
Tags: