Trang chủ » Chuyên đề tâm thần » Tâm lý lâm sàng

Sự can thiệp hệ thống về gia đình đối với trẻ gặp khó khăn trong học tập

Có rất nhiều nguyên nhân về khó khăn trong học tập của trẻ em và thiếu niên. Các nhà tâm lý cũng như các nhà tâm lý sư phạm cần phải tìm kiếm một cách tích cực nhất những nguyên nhân này trước khi đưa ra những lời khuyên, những đề xuất cho thầy cô và cha mẹ.

 1. VỀ KẾT QUẢ HỌC TẬP :

            Đó là sự lượng giá những kỹ năng, những thành tích của thầy đối với trò. Sự phân tích sâu xa hơn của những kết quả này sẽ cho thấy rõ nét những khó khăn đặc trưng trong việc học tập, việc đọc một bài văn cũng như làm những bài toán. Như vậy, chỉ cần đề xuất những phương pháp phù hợp đặc trưng đối với những môn đó sẽ đem lại nhiều lợi ích cho trẻ. Trước một vài khó khăn, những lời khuyên của thầy cô hay của nhà tâm lý sư phạm có thể tỏ ra hiệu quả và sáng suốt.

            Thế nhưng, nhiều trường hợp không đáp ứng với những lời khuyên khi có những vấn đề về hành vi (sự chống đối cứng nhắc, sự lo hãi lan rộng …) đan xen một cách âm ĩ với kết quả học tập. Ở những trẻ này, thường chỉ số trí tuệ là bình thường, đôi lúc cao hơn bình thuờng. Trước khi can thiệp vào một gia đình nào đó, một việc quan trọng là phải nêu rõ được vấn đề. Vấn đề đó nằm ở trường học hoặc/ và ở trong gia đình? Trẻ có khổ tâm vì những dị biệt giữa trường học và gia đình không? Vấn đề luôn luôn phức tạp và kinh nghiệm cho thấy là những lời khuyên của chúng ta với những  ý đồ tốt nhất, nhiều lúc chỉ đem lại được chút ít hoặc không có một thay đổi nào hết đối với tình hình đó.

   2. LỖI Ở NGƯỜI NÀO :

             Sau một thời gian lớn lên với nhiều thất bại, trẻ em và thiếu niên được đưa đến bác sĩ tâm thần nhi hay một nhà tâm lý lâm sàng, một nhà trị liệu.

            Nói chung, lỗi được gán cho một người : Cho đứa trẻ  hay thiếu niên lười biếng không biết nghe lời, hoặc  cho người cha không đầu tư nhiều vào gia đình, hoặc cuối cùng là cho bà mẹ quá bao bọc, quá lo hãi và làm tất cả mọi thứ.

            Sự can thiệp hệ thống không gán lỗi cho một thành viên nào của gia đình hết. Nó không đổ tội cho ai, nhưng nó cho phép hiểu được những mối liên hệ giữa các thành viên, những sự  tương tác tích cực, phù hợp trong thời gian trước. Sự can thiệp sẽ nêu rõ lên một cái gì đó xảy ra bên  trong tổ chức gia đình, một sự kiện đột ngột mà gia đình chưa được chuẩn bị trước và bắt buộc các thành viên của tổ chức gia đình phải thay đổi cuộc sống của mình. Sự kiện đó có thể chỉ là một bước ngoặc trong chu kỳ phát triển của gia đính: một đứa trẻ đi học và phải xa rời bà  mẹ, hoặc đã dậy thì đi vào tuổi thiếu niên, giai đoạn của cuộc sống mà nó muốn  thoát ra khỏi vỏ bọc của gia đình, trở nên tự chủ hơn, nói cách khác nó tìm cách khẳng định bản thân.

            Chúng ta cũng cần nên nghĩ đến chu kỳ phát triển của một cặp vợ chồng đến khoảng tuổi  bốn mươi, đôi vợ chồng điều chỉnh lại  mối quan hệ lứa đôi khi mà những đứa con đã bắt đầu lớn lên. Sự điều chỉnh này có thể gây ra những căng thẳng lớn trong  gia đình. Những căng thẳng này có thể đưa đến sự xa rời nhau hay ngược lại sự xích lại gần nhau cho một cuộc sống tốt đẹp hơn. Sự kiện cũng có thể là tang tóc, là bệnh tật của người cha, người mẹ, là sự mất việc làm. Trong tất cả mọi trường hợp, đều có thay đổi trong cuộc sống hằng ngày và trong hình tượng của người này đối với người kia.

   3. SỰ CAN THIỆP HỆ THỐNG VỀ GIA ĐÌNH LÀ GÌ?

            Sự can thiệp hệ thống sẽ nêu bật lên vấn  đề là những khó khăn trong học tập của trẻ chỉ là một triệu chứng, một dấu hiệu của sự đau khổ, một sự khó chịu của tất cả các thành viên trong gia đình. Ông Robert Neuburger bác sĩ tâm thần, nhà phân tâm và nhà trị liệu gia đình, đã giảng dạy ở Paris và Bruxelles, và đã sử dụng ẩn dụ của một chiếc xe gắn máy. Đương nhiên đó là một chiếc xe gắn máy chất lượng tốt, quen chạy trên đường phẳng, và thình lình nó phải leo  dốc cao. Đến nửa dốc thì nó không chạy lên nổi nữa, phái dừng lại. Lúc đó người ta nghĩ đến việc là phải để người được đèo ở phía sau xuống xe đi bộ, cho đến lúc mà người ta nghĩ ra là chỉ cần gài số nhỏ hơn là chiếc xe có thể tiếp tục leo dốc được.

            Thay đổi tốc độ là thay đổi tình trạng hoạt động của gia đình. Chúng ta lấy thí dụ của một gia đình với những đứa trẻ trong  giai đoạn ẩn tiềm của cuộc sống (5 – 11 tuổi). Chúng ta có thể nhận thấy một sự cân bằng nào đó trong việc xác định vai trò của từng thành viên và những công việc cần thiết trong dạy dỗ con cái, trong giữ vững quan hệ lứa đôi, trong quan hệ với ông bà, với thế giới bên ngoài, với công việc … Hệ thống chạy đốt, chạy đều, êm đềm! … “ Đến lúc có một cái dốc phải trèo lên : một đứa trẻ đi vào tuổi dậy thì, tuổi thiếu niên. Nó bắt đầu có những đòi hỏi mới gắn liền với sự phát triển của nó, đặc biệt đối với ý muốn khẳng định bản thân, đi vào một cuộc sống tự chủ. Yếu tố mới này làm xáo trộn sự êm đềm thường ngày của gia đình (sự điều bình của gia đình, từ ngữ được sử dụng trong liệu pháp tâm lý gia đình).

            Một sự điều chỉnh nhỏ nào đó không thể làm biến chuyển tình hình được: xuất hiện sự cần thiết phải xác định lại quan hệ giữa cha mẹ với thiếu niên, kéo theo sự cần thiết, phải xác định lại quan hệ giữa cha mẹ với nhau, với những đứa con khác, và cả với ông bà” (Neuburger, 39 – 40). Nhưng gia đình có thể bị khủng hoảng và sợ sệt truớc những triệu chứng của đứa bé đó. Và “ gia đính muốn để em nhỏ đã gây xáo trộn đó xuống xe”, mặc dù cha mẹ cũng hiểu được là cần thiết phải thay đổi, nhưng việc này có vẻ gây nhiều nguy cơ, gia đình có thể đổ vỡ.

            Lý thuyết hệ thống quan niệm là sự xuất hiện của một triệu chứng trong một thành viên của gia đình là dấu hiệu của một rối loạn chức năng của gia đình gắn với việc phủ nhận sự  cần thiết phải thay đổi. Đây là một  điều bắt buộc vì cuộc sống của gia đình cũng thay đổi theo thời gian.  Những gia đình đó lại muốn là người ta sửa chữa những triệu chứng đó bằng thuốc men hay bằng việc cho điều trị trong bệnh viện. Nhưng chúng ta cũng cần hiểu rõ chức năng của triệu chứng là nhằm duy trì sự đe dọa đối với sự điều bình của gia đình. Và người ta cũng có thể tiếp tục sống như vậy, nhưng với bao đau khổ!  Lập trường của can thiệp hệ thống thấy được và coi trọng hoạt động của tổ chức gia đình, không coi đây như là” nguyên nhân” của những khó khăn của đứa trẻ. Ngược lại sự can thiệp gia đình sẽ dựa trên những khả năng và kỹ năng của gia đình và tìm cách giúp gia đính giải quyết những mâu thuẩn xuất hiện ở  một thời điểm nào đó, giữa nhu cầu của cá nhân và nhu cầu của nhóm.

   4. TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG;

            Trường hợp lâm sàng tại Bruxelles :  M là đứa bé 12 tuổi, học lớp 6 . Sau khi học xong tiểu học không có vấn đề gì hết, em được nhận vào một trường trung học rất nổi tiếng. Nhưng vào năm đầu trung học, kết quả học tập của em giảm sút rõ rệt, tính tình em thay đổi. Em chống đối lại tất cả và dọa là sẽ không làm bài và không học bài gì hết. Trong gia đình, M là anh cả và có hai đứa em gái V và C. Cả ba đều học rất giỏi. M học trước 1 năm. Gia đình êm ấm, cha mẹ nghỉ rằng M chưa đủ sức và cần học lại 1 năm.

            Sau khi nghe bà mẹ trình bày, bác sĩ quyết định là không gọi M đến khám mà bước đầu chỉ chủ yếu nói chuyện với cha mẹ: hai vợ chồng đều có trình độ đại học và đều có việc làm. Bà mẹ cho rằng chồng mình không an ủi mình khi M hỗn với mẹ. Còn bố thì cho mẹ là không cố gắng giải thích cho em đừng có căng thẳng quá mức. Trước kia M rất gắn bó với mẹ, nhưng giờ đây em lại muốn tách ra, sống một cuộc sống tự chủ, cho nên có những phản ứng mạnh mẽ như vậy. Bác sĩ cũng đã giải thích cho V (em gái của M) hiểu được sự đau khổ của mẹ, cần phải gắn bó với mẹ. Như vậy sẽ cho phép M phát triển một cách nhẹ nhàng hơn.

            Trường hợp lâm sàng tại TP.Hồ Chí Minh : T là một đứa trẻ 13 tuổi học lớp 7. Em có một người chị lớn hơn em 2 tuổi. Cha mẹ có lập ra một cửa hàng và bận rộn suốt ngày trong việc làm ăn. T học hết tiểu học được xếp hạng giỏi. Lên lớp 6, học lực bắt đầu sa sút và đến lớp 7 thì em không muốn học nữa, không muốn làm bài gì hết. Làm trắc nghiệm tâm lý, chỉ số trí tuệ của em bình thường. Gia đình, cha mẹ đều êm ấm, nhưng chỉ có cái là ít gặp gỡ nói chuyện với nhau và gần như không ai có thời gian nói chuyện với T.

            Học lực của T sa sút đến mức mà trường xem em như một trường hợp cá biệt. Em T học được nhưng không muốn học. Khi nào cô giáo chủ nhiệm động viên và chú ý đặc biệt thì T mới chịu làm bài kiểm tra và đạt điểm khá cao. Sau khi tìm hiểu cặn kẽ gia đình, bác sĩ đưa ra giả thuyết là T không phải là “ nguyên nhân” và cả gia đình đều nhận thức là cha, mẹ và chị cần gần gũi, nói chuyện nhiều hơn với T và tạo điều kiện để cho T phát triển đi vào tuổi thiếu niên một cách vững chắc hơn.

 KẾT LUẬN:

            Trong can thiệp hệ thống về gia đình, buớc đầu tiên là phân tích tình hình. Chúng tôi đưa ra giả thuyết không phải là một vấn đề tâm bệnh lý có sẵn được nổi lên ở đứa trẻ đó, mà là một sự  kiện làm  xáo trộn sự cân bằng của gia đình và xáo trộn các mối tương tác giữa các thành viên trong gia đình. Trong trường hợp ở đây, sự kiện là tới tuổi dậy thì bước vào giai đoạn niên thiếu với nhu cầu tự tách biệt mình và theo sự phát triển  của  dục tính. Tình hình như vậy làm biến chuyển hoạt động của tổ chức gia đình. Chúng tôi không muốn tập trung ngay từ đầu vào bệnh nhân. Vấn đề ưu tiên là cặp cha mẹ, nhằm củng cố thêm quan hệ vợ chồng. Bởi vì họ phải cùng nhau đương đầu với nhưng xáo trộn trong gia đình nhỏ bé của họ. Chính trong buổi khám bệnh đó mà những hành vi của mỗi một thành viên của gia đình được kiến  tạo lại thành những hành vi tích cực nhằm tìm kiếm một giải pháp. Sự phân cách vai trò của anh em được đề cao. Trong quá trình làm việc, một điều rất quan trọng là nhà trị liệu phải giữ tính trung hoà, nghĩa là giữ một khoảng cách đồng đều với mọi người trong gia đình và không bao giờ thiên vị cho một ai. Nhà trị  liệu phải giữ được lòng tin đối với khả năng của gia đình trong việc tạo ra một không gian mà trong đó mỗi người có thể phát triển, lớn lên nhưng vẫn có sự gắn bó với gia đình.

Tài liệu tham khảo :

1.      Sidney Bloch, Cơ sở của lâm sàng tâm thần học, NXB Y Học, 2001.

2.      Neuburger R., L’autre demande (Psychanalyse et thérapie familiale systémique), ESF, Paris, 1995.

3.      Régis de Villard, Difficultés scolaires chez l’enfant et l’adolescent, Lyon, 1990.

4.      Dumont J.P., Psychiatrie de l’enfant et de l’adolescent, Edition Heures de France, 1995.

* Olivette Mikolajczack : Bác sĩ tâm thần trẻ em, người Bỉ, và đang làm việc tại Trung tâm khám bệnh tâm thần Trẻ em tại Bruxelles.

** Lâm Xuân Điền : Bác sĩ tâm thần, nguyên Giám Đốc Bệnh Viện Tâm Thần TPHCM, Chủ nhiệm Bộ môn Tâm Thần và Tâm Lý Y Học (Trung Tâm Đào Tạo và Bồi Dưỡng Cán Bộ Y Tế).

Tags: