Trang chủ » Thông tin » Dành cho Bác Sĩ Đa Khoa

Các khái niệm về HYSTERIE từ trước đến nay

Platon và Hippocrate.

Từ thời Platon và Hippocrate cho đến thế kỹ XVII Sydenham mới làm đảo lộn những quan niệm cũ về hysterie cho rằng:

Hysterie là một bệnh riêng của phụ nữ, là hậu quả của việc tử cung di chuyển từ bụng lên thượng vị gây cảm giác ngẹt thở hay ói mửa. Sau đó lên ngực và cổ  gây hồi hợp tim, đánh trống ngực, khó thở. Lên đầu gây nặng đầu, đau đầu, buồn ngủ, ngủ lịm đi hoặc những cơn co giật khắp cơ thể, có thể mất hoặc không mất ý thức. Ngoài ra còn một số thể cục bộ khác.

Nếu có một vài triệu chứng đặc biệt khác được mô tả như: rối loạn cảm giác, rối loạn giác quan, rối loạn vận động, rối loạn chức năng nội tạng thì vì chúng có trước hoặc đi kèm theo cơn hoặc người ta gặp chúng kết hợp chặt chẽ với cơn. Sau cùng là thói quen gán cho tử cung nhiều triệu chứng gặp ở những phụ nữ được coi là mắc bệnh hysterie.

Ơ thời kỳ này y khoa lâm sàng chưa hình thành một cách độc lập. Chỉ với sự ra đời của y học lâm sàng kết hợp quan sát và mô tả một cách hệ thống cùng với các ngành khoa học chính xác khác cho đến cuối thế kỷ XVIII Philippe Pinel mới thực sự tách một số bệnh lý ra khỏi hysterie.
 
Charles Lepois

Năm 1618 ông cho rằng hysterie là tác dụng của những rối loạn tử cung. Ông không cho đó là tác dụng của sự di chuyển tử cung đến các vùng khác nhau của cơ thể nữa.Ông cho rằng động vật sống có một ham muốn mãmh liệt sinh sản, ham muốn này khuấy động tất cả các bộ phận trên cơ thể, hysterie là cơn giận dữ mãnh liệt khi bị tước đoạt khả năng sinh sản điều mà không thể chấp nhận được.

Lepois xem hysterie là một bệnh não bộ tự phát gây ảnh hưởng trên tử cung cũng như các cơ quan khác, gần giống động kinh và là bệnh chung cho cả nữ và nam.

Khái niệm này là một khái niệm rất “cách mạng” đối với bệnh hysterie và phải hơn nữa thế kỷ sau mới có những người tương đồng với ông như Willis và Sydenham.
 
Galien

Galien đại diện cho thuyết thể dịnh thì cho rằng hysterie là hậu quả của sự  ứ  kinh nguyệt mà còn gọi là “tinh dịch nữ” hay sau này còn được gọi là “uất khí” nhỏ li ti kích thích và làm tê liệt hệ thống thần kinh  gây ra những triệu chứng “đau tử cung”.
 
Willis

Năm 1667 Willis nổi tiếng bởi các nghiên cứu trên giải phẫu não bộ, những trung tâm thần kinh và các bệnh lý của chúng. Ong đồng ý với những khái niệm của Lepois, từ các nghiên cứu về các chức năng hoạt động của hệ thần kinh, ông đã làm thay đổi những quan niệm sai lầm cũ đặc biệt trong bệnh hysterie trong bản tranh luận của ông với Highmore, người cũng không chấp nhận lý thuyết tử cung nhưng lại cho rằng hysterie là một bệnh do thay đổi thành phần của máu.
 
Sydenham

Năm 1681 Sydenham đưa một bản tổng hợp về hysterie và hypocondrie coi  hai loại bệnh này chỉ là một mà gọi khác đi do khác giới Ông viết: “tất cả những tác giả cũ đều gán cho những triệu chứng của bệnh hysterie là do những hư hại của tử cung thế nhưng nếu ta so sánh với bệnh mà chúng ta gọi ở nam giới là hypocondrie mà chúng ta cho rằng do bị tắc nghẽn ở lách hay những bộ phận khác ở bụng dưới chúng ta sẽ thấy sự giống nhau rất lớn giữa chúng. Ông còn đưa ra nhận xét rất tinh tế: “ dù những phụ nữ hysterie hay những nam giới hypocondrie biểu hiện những triệu chứng bệnh rất cơ thể nhưng họ còn là những người bệnh nặng hơn về tinh thần bởi vì họ không hề  có một chút hy vọng chữa khỏi bệnh. Mỗi khi người ta gợi cho họ một chút hy vọng họ sẽ nổi giận lập tức cứ như  sự thất vọng này là bản chất của bệnh. Trong đầu họ chứa đầy những ý nghĩ buồn bã nhất và họ tin rằng tất cả các loại đau đớn sẽ đến với họ.  Họ đam mê trở thành bệnh nhân dù cho không có gì để lo sợ, để giận dữ, để ghen tuông và để nghi ngờ. Họ không ngừng băn khoăn, day dứt về bản thân mình. Họ không thể chịu đựng được sự vui sướng, nếu có lúc nào đó họ vui vẻ thì những khi đó thì cũng chỉ rất hiếm hoi. Trong những lúc vui vẽ hiếm hoi này tinh thần kích thích, họ cũng thể hiện những ham mê rất thảm hại. Họ không thể giữ được một sự quân bình nào. Đối với họ sự hời hợt hoặc sự lố lăng mới là hằng định, lúc thì họ yêu cuồng nhiệt, lúc thì họ lại căm ghét không lý do cùng một người. Nếu họ dự định làm một việc gì đó họ sẽ thay đổi ngay dự định đó và làm tất cả trái ngược lại. Sydenham cũng cho rằng những đam mê là yếu tố cơ bản của những rối loạn thăng bằng thần kinh.
 
Cullen

Năm 1775 Cullen một bác sĩ người Anh phân ra 4 loại bệnh trong các bệnh loạn thần kinh (Nevroses) thuật ngữ này ông dùng để chỉ tất cả những bệnh không có sốt, không có tổn thương thực thể. Ông cho rằng các bệnh này là do rối loạn chức năng thần kinh cục bộ hay toàn thể. Nhưng ông không đồng ý nhập chung hysterie và hypocondrie. Ông cho rằng hysterie là bệnh của toàn bộ cơ quan cơ  sinh dục nữ, là một bệnh loạn thần kinh chủ yếu là co giật, một bệnh thần kinh đồng cảm với một tổn thương của các bộ phận trong cơ quan sinh dục nữ. Hypocondrie là một bệnh não bộ tự phát chung cho hai giới, trong đó các cơ quan nội tạng chỉ rối loạn một cách thứ phát.
 
Pinel

Năm 1799 Pinel xuất bản một cuốn “phân loại bệnh triết học” trong đó cho ra một quan niệm về hysterie và nó tồn tại cho đến giữa thế kỷ XIX. Ông cho rằng những bệnh loạn thần kinh là những tổn thương của tình cảm của sự vận động, không viêm nhiễm, không có tổn thương cấu trúc.
 
Briquet

Năm 1859 Briquet cho ra đời 1 cuốn sách là một trong những tài liệu giá trị nhất về quan niệm đối với bệnh hysterie trước Freud. Nó ảnh hưởng rất nhiều đối với các trường phái của Đức, Pháp và đặt biệt đối với Charcot. Là trưởng một cơ sở điều trị những người bệnh hysterie ông đã khám và thu thập trên 430 trường hợp và đã xây dựng một bệnh cảnh rất đầy đủ: những triệu chứng tiền triệu, trong cơn và  sau cơn. Theo ông những biểu hiện đa dạng này có thể xếp theo 8 nhóm sau:

1.      Tăng cảm giác (Hyperesthesies) như các loại đau nông cũng như sâu ở mọi vị trí.
2.      Mất cảm giác (Anesthesies).
3.      Sự tha hóa của tính nhận cảm (Perversion de la sensibilité) nhiều loại dị cảm khó chịu.
4.      Những cơn co thắt như co thắt nội tạng, co cứng cơ.
5.      Những cơn bùng phát như: co giật, sững sờ, say đắm, ngủ lịm, mất ý thức, ngất.
6.      Yếu liệt (Paralysies): liệt cục bộ, lan tỏa hay nội tạng.
7.      Những tha hóa của tính co như: run, múa chorée, mất điều hòa.
8.      Những thay đổi về bài tiết như: chứng chảy nước miếng, chứng vã mồ hôi, chứng tiết sữa, chứng đái dầm …

Briquet cho hysterie là một bệnh của não bộ và chung cho cả hai giới nhưng nữ thường  gặp hơn. Bệnh hysterie liên quan nhiều đến xúc cảm.

Charcot.

Tốt nghiệp y khoa năm 1862. Năm 1870 làm trưởng khoa điều trị những bệnh co giật không phải loạn tâm thần. Là một nhà thần kinh học có nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng về bệnh parkinson, sclerose en plaques …

Ông cố gắng nhưng không tìm ra được một tổn thương thực thể nào trong bệnh hysterie. Nhưng ông vẫn cho rằng có một tổn thương thực thể nào đó mà hiện nay khoa học chưa phát hiện được là nguyên nhân gây ra bệnh hysterie. Ông cũng cho rằng bệnh hysterie là một bệnh di truyền và nó cũng xảy đến trong một số trạng thái đặc biệt như cơ thể bị suy kiệt, có những yêu cầu quá đáng đối với hệ thần kinh, những bệnh toàn thể, nhiễm trùng, nhiễm độc đặc biệt là những trạng thái sốc tình cảm.

Freud (1856 - 1939).

Theo ông những người bị hysterie đã ngưng trệ ở giai đoạn 3 của mặt cảm Oedipe. Giai đoạn này trẻ em đồng hoá bản thân theo người cha hoặc người mẹ cùng giới với mình. Trẻ tìm kiếm tình yêu ở người khác giới ngoài gia đình mình. Có rất nhiều phụ nữ trong thời kỳ thơ ấu của mình đã bị tách ra khỏi mẹ quá sớm vì vậy họ coi thường những người mẹ này và lý tưởng hóa đối với người cha. Họ lầm lẫn dương vật và biều tượng về dương vật. Trẻ đồng nhất bản thân đối với người cha của mình. Với tư cách là một người đàn ông, trẻ đã thoát ra khỏi những điều kiện nữ tính mà trẻ coi là tầm thường. Cuộc đời của trẻ dành trọn cho sự xâm chiếm của biểu tượng dương vật để làm say đắm đàn ông. Ngược với những người bị ám ảnh những người hysterie rất hướng ngoại, họ tìm cách để tỏa sáng, quyến rũ, đặt cho mình một nhiệm vụ. Họ không bị ức chế tình dục, họ có rất nhiều những cuộc tình phiêu lưu nhưng không bao giờ họ thỏa mãn. Họ chịu đựng rất kém những luật lệ của đời sống và đặc biệt là những điều bắt buộc cần thiết của cuộc sống vợ chồng: sự sinh đẻ, chăm sóc con cái. Trong trường hợp thất bại họ chạy trốn trong trạng thái bệnh lý để lại tìm kiếm, chiếm đoạt sự chú ý của những người thân. Cũng có những người đàn ông hysterie, đối với họ thành phần nữ tính thuộc nhân cách thắng thế hơn thành phần nam tính. Họ thường là những người bất lực.

Những thiếu sót cấu trúc quan trọng gây ra bởi những sang chấn thời thơ ấu theo Freud.

 Giả sử rằng một đứa trẻ rất kinh ngạc khi nhìn thấy mẹ của nó trần truồng khi vừa tắm xong  và đứa trẻ nhận thấy rằng ngược hẳn với những gì nó nghĩ. Người mẹ nó không có dương vật. Thông thường trạng thái đã trải qua này thường xuyên được gợi lại đứa trẻ từ bỏ những huyễn tưởng của nó và đặt mình vào thực tại. Như vậy nó vượt qua mặt cảm Oedipe và mặt cảm bị thiến. Trong một vài trường hợp một số trẻ không chịu đựng được bằng chứng thực tại, những trẻ này đã chịu đựng một sang chấn và chúng bị rơi vào tình trạng bệnh lý. Như vậy một thiếu sót cấu trúc đã được tạo ra ở mức vô thức. Chúng sẽ tiếp tục rơi vào tình trạng bệnh mới mỗi lần chúng hiện diện trong một hoàn cảnh giống như hoàn cảnh đầu tiên mà chúng không thể chịu đựng được. Cũng như vậy người ta cũng phải đối diện với thực tế của sự khác nhau giữa hai giới tính trong những quan hệ tình yêu đầu tiên.

Rất nhiều những cơ chế tâm lý bệnh có thể được mô tả tùy theo hoàn cảnh khác quan của đứa trẻ trong lúc xảy ra sang chấn tình dục nó sẽ quyết định nhiều dạng bệnh lý khác nhau.
 
Cơ chế bệnh sinh của hysterie theo Freud.
Dồn nén (Refoulement): Đứa trẻ nhận thấy rằng người mẹ không có dương vật, nó rất hoảng loạn và sẽ làm tất cả để quên đi, đẩy lui thực tế khủng khiếp này, nhưng điều này luôn có xu hướng trở lại ở mức độ ý thức mỗi khi mà cơ chế tự vệ này lơi lỏng. Sự trở lại của cái bị đẩy lui biều hiện theo 3 cách:

1.      Chuyển dạng (Conversion)

Sự không có dương vật ở người mẹ được cảm nhận như một sang chấn không thể chụi đựng nổi và sự tổn thương này sẽ chuyển đổi thành một triệu chứng thực thể theo 2 cách:

-         Đối với nữ: “Tôi không phải bị thiến nhưng tôi phải chịu đựng một khuyết tật cơ thể, tôi có hai chân bị liệt, tôi không nói được, tôi không nghe được, tôi không nhìn được …”

-         Đối với nam: tôi có dương vật nhưng tôi không thể sử dụng nó, tôi bị bất lực, không thể làm được việc gì.

2.      Phóng chiếu (Projection):

Trẻ đã diễn giải sự không có dương vật như một sự hủy hoại gây ra bởi người cha và lo sợ cũng bị chịu đựng chung số phận như người mẹ mình, nhưng cái hình tượng bạo dâm của người cha bị đẩy lui và sự đe dọa bị thiến này được chuyển đến một vật nào đó (Objet phobogene) và luôn tránh né vật này.

3.      Di chuyển (Deplacement):

Sự khác nhau về Sexe được trẻ nhận biết nhưng được giải tỏa đi giảm nhẹ đi sự  ám ảnh lo lắng về điều này được thay bằng những sự khác nhau rất nhỏ như  tôi quá lùn, mũi tôi quá tẹt hoặc quá nhọn.

 
Tài liệu tham khảo

1.      Paul Bercherie. Genese Des Concepts Freudiens.
2.      Freud Psychanalyse. Textes Choisis.
3.      Marie Jean Sauret, Christiane Alberti. La Psychanalyse.
4.      Robert Viry. L Etude De La Psychiatrie Analytique.
5.      Michel Dethy. Introduction A La Psychanalyse De Freud

Bác sĩ Trịnh Tất Thắng, Bs Giám Đốc BVTT

 
Tags: