Trang chủ » Thông tin » Dành cho Bác Sĩ Đa Khoa

Các biểu hiện tâm lý – Tầm thần nơi bệnh nhân động kinh

Theo y văn có khoảng 10% động kinh đã từng nhập viện tâm thần ngắn ngày. 20% có những khó khăn về việc làm và quan hệ xã hội.

I/ Các rối loạn ý thức trong cơn:

1/ Cơn toàn thể:

a/ Cơn lớn:

Với mất ý thức toàn bộ cấp kỳ. Sau cơn bệnh nhân có thể có lúc lú lẫn hoặc u ám dễ có kích động (u ám là định hướng lực còn chính xác nhưng bệnh nhân trả lời một cách chậm chạp).

b/ Cơn nhỏ:

-         Mất ý thức thoáng chốc, từ ½ đến 10 giây.
-         Nhẹ: thoáng qua bệnh nhân không bị mất nhịp sinh hoạt.
-         Nặng: đờ đẩn, mắt dại, không nói, cử chỉ ảnh hưởng, ( viết xiên xẹo, cử động chậm lại).
-         Thường giảm đi khi tuổi lớn: cơn ít xảy ra, xảy ra nhẹ, hoặc chuyển qua cơn lớn.

2/ Cơn cục bộ:

Ở đây muốn nói tới cơn động kinh thái dương với các biểu hiện rất phong phú:

-         Cơn thực vật: như đau bụng thượng vị.
-         Cơn giác quan: thính giác (tiếng động, âm nhạc, lời nói...) khứu giác (mùi khó chịu) thị giác (thấy hình thú vật, người).
-         Biến đổi tâm lý nhất thời: cảm giác xa lạ, cảm giác như trong mơ, cảm giác đã từng sống mặc dù đang ở nơi xa lạ, cảm giác sống lại hồi ức cũ.

-         Cơn rối loạn hành vi tác phong: nổi bật tính tự động, kỳ dị, bệnh nhân không ý thức được, động tác từ đơn giản tới phức tạp (cởi quần áo, rùn vai, chạy đi...)
-         Nổi bật về rối loạn ý thức trong 2 hình thái tâm lý và hành vi tác phong là từ  ý thức kiểu bối rối, tri giác sai thực tại tới nặng hơn là ý thức hoàng hôn.

Lưu ý: Trên lâm sàng người ta hay gặp các cơn động kinh cơn lớn với cơn thoáng trước cơn: thoáng giác quan, thoáng thực vật, thoáng tâm lý...

Hiện nay chúng được coi là những cơn cục bộ toàn thể hóa thứ phát.

II/ Các cơn rối loạn ý thức ngoài cơn:

 -         Hành vi bất thường: cơn từ vài giờ đến vài ngày, xuất hiện và chấm dứt đột ngột. Bệnh nhân có các hành vi phức tạp: đi tới đi lui, làm các công việc nhà hoặc nghề nghiệp nhưng người xung quanh thấy bệnh nhân mặt vô hồn, nói năng mù mờ.
-         Lú lẫn: kéo dài vài ngày tới vài tuần. Thường là lú lẫn với những phản ứng gây hấn.
-         Ý thức hoàng hôn: ý thức thu hẹp, bệnh nhân có thể thấy những quang cảnh đe dọa, dẫn tới có những hành vi hung bạo (giết người, đốt nhà, hiếp dâm....)

Cơ chế:

-         Hiện tượng “rối loạn sau cơn” với hoạt động sóng lan tỏa Theta và Beta.
-         Cơn vắng ý thức liên tục: có thể từ 6 – 48 giờ ( cá biệt vài tuần). Bệnh nhân có thể gần như bình thường, lú lẫn, buồn ngủ, sửng sờ, nặng hơn có thể bỏ nhà ra đi.
-         Tai biến do điều trị:
·        Hydantoines: khi quá liều  ý thức u ám hay lú lẫn kèm theo rung giật nhản cầu, rối loạn động tác kiểu tiểu não.
·        Zarontin: lú lẩn, hoang tưởng, trầm cảm trong các ngày đầu, tuần đầu của điều trị.

III/ Các rối loạn về tâm lý, tâm thần.

1/ Chậm phát triển tâm thần: 10% bệnh nhân động kinh.

2/ Trầm cảm: tần suất cao hơn so với dân số chung và có tỷ lệ tự sát cao.

3/ Rối loạn nhân cách: thường thấy, gặp nhiều ở bệnh nhân thái dương, biểu hiện bằng cảm xúc không ổn định, hay xung động, nổi giận bùng nổ...

4/ Ảo giác hoang tưởng: thường ở những động kinh thái dương, sau khi bệnh từ 10 –20 năm.

Có khi biểu hiện lâm sàng gần giống tâm thần phân liệt thể hoang tưởng nhưng hoang tưởng kém hệ thống, cảm xúc ít nét thiếu hòa hợp hơn. Trong 30 % trường hợp bệnh nhân sẽ đi vào sa sút.

5/ Sa sút tâm thần: hiếm.

6/ Lo âu: lo âu kiểu nghi bệnh, tự đánh giá thấp bản thân.

7/ Điều trị:

An thần kinh êm dịu (Melleril, Neuleptil, Dipiperon) và nhóm Benzodiazepine có tác dụng chống lo âu và tính dễ bị kích thích.

Depakine điều chỉnh các rối loạn khí sắc và tính khí dễ bùng nổ./.

Tổng hợp từ bài Les aspects psychologiques et psychiatriques de l’épilepsie

                  Psychiatrie de l’adulte                                Lemperière – Féline.

Người tổng hợp: BS. TRẦN DUY TÂM
 

 
Tags: