Trang chủ » Chuyên đề tâm thần » Dược lý lâm sàng
Dược lý lâm sàng
  • Sử dụng Clozapine trong tâm thần phân liệt kháng trị

    Sử dụng Clozapine trong tâm thần phân liệt kháng trị

                Tâm thần phân liệt (TTPL) là một rối loạn tâm thần nặng và thường tiến triển mãn tính. Dự hậu qua một số nghiên cứu cho thấy 20 – 30% bệnh nhân sống tương đối bình thường, 20 – 30% bệnh nhân còn triệu chứng ở mức độ trung bình và 40 – 60% giảm sút đáng kể các mặt hoạt động chức năng.

    Xem chi tiết

  • Thuốc mới điều trị Alzheimer và các sa sút tâm thần khác

    Thuốc mới điều trị Alzheimer và các sa sút tâm thần khác

    Giả thuyết cholinergic của bệnh Alzheimer (Davies và Maloney, 1976) đã dẫn đến việc phát triển một số chiến lược tăng cường hoạt động các neurons cholinergic suy nhược và do đó cải thiện chất dẫn truyền thần kinh Acetylcholin. Hiệu quả điều trị chắc chắn nhất được thấy khi sử dụng chất ức chế men acetylcholinesterase, chất này làm giảm chất dẫn truyền  thần kinh tại synape cholinergic.

    Xem chi tiết

  • Vai trò của thuốc điều hòa khí sắc trong điều rối loạn lưỡng cực

    Vai trò của thuốc điều hòa khí sắc trong điều rối loạn lưỡng cực


    Sự tiến bộ trong nhận thức về rối loạn lưỡng cựccho thấy có khoảng 5% dân số chung mắc bệnh này. Thuốc điều hòa khí sắc là trị liệu cần thiết đối với bệnh nhưng cần phải được sử dụng trong vòng nhiều năm và việc bắt đầu với một ngưỡng điều trị phải được xem xét đến.

    Xem chi tiết

  • Vai trò của chất P trog trầm cảm: liên quan khía cạnh điều trị

    Vai trò của chất P trog trầm cảm: liên quan khía cạnh điều trị

    Người ta đã tổng hợp nhiều chất đối kháng và đồng vận thụ thể neurokinin (NK) và vài chất trong số đó đã được thử nghiệm lâm sàng. Nghiên cứu mù đôi về chất MK869 là một chất đối kháng chọn lọc thụ thể NK1 có tác dụng phong bế hoạt động của chất P cho thấy thuốc có hoạt tính hơn hẳn giả dược và ít tác dụng phụ về tình dục hơn hẳn so với paroxetine trong việc điều trị ngoại trú bệnh nhân trầm cảm chủ yều và lo âu mức độ trung bình.

    Xem chi tiết

  • Những nguyên tắc chỉ đạo trong sử dụng thuốc chống loạn thần giai đoạn cấ

    Những nguyên tắc chỉ đạo trong sử dụng thuốc chống loạn thần giai đoạn cấ

      Trước khi bắt đầu điều trị cần khai thác bệnh sử và thực hiện thăm khám tổng quát và nội thần kinh đầy đủ. Bệnh sử và các thăm khám trên là quan trọng để bảo đảm không chỉ chẩn đoán chính xác mà còn đảm bảo an toàn khi sử dụng các thuốc chống loạn thần. Vì lý do mỗi loại thuốc chống loạn thần đều có biểu hiện tác dụng phụ khác nhau nên thăm khám đầy đủ để việc sử dụng có thể chuẩn và thích đáng hơn. Các yếu tố quan trọng đặc biệt trong thăm khám bao gồm mạch, huyết áp, khám mắt, nội thần kinh lưu ý các triệu chứng ngoại tháp và loạn vận động muộn.

    Xem chi tiết

  • Mở rộng vai trò của thuốc chống loạn thần trong rối loạn lưỡng cực

    Mở rộng vai trò của thuốc chống loạn thần trong rối loạn lưỡng cực

    Rối loạn lưỡng cực là một trong những rối loạn phức tạp về triệu chứng trong tâm thần. Sự hiện diện của nhiều giai đoạn của rối loạn với những biểu hiện khác nhau trong mỗi giai đoạn làm cho rối loạn này gặp nhiều khó khăn trong chẩn đoán và điều trị. Cho đến hiện nay, những nghiên cứu và thuốc tập trung cho rối loạn lưỡng cực vẫn còn ít. Khó khăn này ngày nay đang thay đổi vì một số lý do.

    Xem chi tiết

  • Chất ức chế CALCI sử dụng trong tâm thần

    Chất ức chế CALCI sử dụng trong tâm thần

    Chất ức chế Calci còn có những tên gọi khác như đối vận calci, phong bế calci (calcium channel antagonists, calcium channel blockers, organic calcium channel inhibitors). Thuốc được sử dụng đầu tiên trong tim mạch để điều trị tăng huyết áp, cơn đau thắt ngực và một vài thể đặc biệt rối loạn nhịp tim. Đầu những năm 60, người ta đã biết prenylamine (Lindner 1960) và verapamil (Haas 1962) giãn được động mạch vành; nhưng mãi tới 1964, Fleckenstein mới chứng minh được cơ chế chặn kênh calci. Sau đó nhiều chất ức chế calci được tổng hợp như nifedipine 1971 và được dùng rộng rãi từ năm 1980

    Xem chi tiết

  • Điều trị loạn vận động muộn và hậu quả

    Điều trị loạn vận động muộn và hậu quả

    Loạn vận động muộn xuất hiện ngay khi thuốc chống loạn thần được phát minh. Các bệnh nhân bị loạn vận động muộn luôn cần được chăm sóc và điều trị vì hậu quả tàn phế của nó.

    Xem chi tiết

  • Ngộ độc LITHIUM cấp và hội chứng ác tính

    Ngộ độc LITHIUM cấp và hội chứng ác tính

    Lithium hoạt động như một chất ổn định khí sắc ơ bệnh nhân (BN) bị rối loạn lưỡng  cực.  Khoảng 80% BN hưng cảm giai đoạn cấp đáp ứng với lithium. Ngoài ra, lithium được sử dụng để điều trị phòng ngừa rối loạn lưỡng cực mặc dù phổ điều trị hẹp (0,6-1, 2 mEq/l) và có khả năng gây ngộ độc.

    Xem chi tiết

  • Đáp ứng với giả dược trong trầm cảm

    Đáp ứng với giả dược trong trầm cảm

    Với bản chất diễn tiến dao động trầm cảm là tình trạng bệnh lý có đáp ứng đáng kể với giả dược: tỷ lệ trung bình đáp ứng với giả dược trong các thử nghiệm lâm sàng đối với thuốc chống trầm cảm dao động trong khoảng từ 30 – 40%. Chúng tôi đã xem xét lại lịch sử và thuật ngữ học về giả dược và những cơ chế giả thiết nhằm giải thích cho đáp ứng với giả dược bao gồm cả mối quan hệ bác sĩ – bệnh nhân, các yếu tố sinh học, văn hoá xã hội và tình huống điều trị.

    Xem chi tiết

  • So sánh ngẫu nhiên, mù đôi giữa mirtazapine và paroxetine trên bệnh nhân trầm cảm

    So sánh ngẫu nhiên, mù đôi giữa mirtazapine và paroxetine trên bệnh nhân trầm cảm

    Mặc dù hiện nay thuốc chống trầm cảm hữu hiệu đã được sử dụng rộng rãi, nhưng đối với bệnh nhân trầm cảm cao tuổi vẫn có những thách thức điều trị chuyên biệt. Bệnh nhân cao tuổi dễ cảm nhiễm với các biến cố bất lợi của thuốc, tương tác thuốc giữa các thuốc chống trầm cảm với nhau và với các thuốc khác, giảm phân phối thuốc ở thận và gan. Thuốc chống trầm cảm ba vòng (TCA) và thuốc ức chế chọn lọc tái thu hồi serotonin (SSRI) có hiệu quả điều trị trên bệnh nhân cao tuổi có rối loạn trầm cảm. Tuy vậy, TCA lại có nhiều vấn đề về mặt an toàn và khả năng được dung nạp gây khó khăn cho việc đạt được liều điều trị thỏa đáng, và đa số SSRI đều kết hợp với nhiều tương tác thuốc và tăng nguy cơ của các biến cố bất lợi thường gặp như buồn nôn, kích động, mất ngủ và loạn năng tình dục.

    Xem chi tiết